Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

NGẪU HỨNG VỚI MÀU - BUỔI SÁNG TRÊN SÔNG (Xướng - Họa thơ)




NGẪU HỨNG VỚI MÀU

 (Bài xướng)

TÍM cảnh chân trời trải mộng theo 
Làn mây XÁM lượn phía lưng đèo
Rừng XANH ngợp mắt tha hồ thưởng
Suối BẠC vươn mình thoải mái nheo
ĐỎ Hạ nồng hương bền vững lái
VÀNG Thu nặng nghĩa dẻo dai chèo 
Quay về điểm lại hồn trong TRẮNG
Giấc điệp tươi HỒNG gió thoảng reo

Bạch Hồng Ngọc

-----------------------
CÁC BÀI HỌA
 BUỔI SÁNG TRÊN SÔNG
( Họa ngẫu hứng với màu)

Hoa TÍM  thẫn thờ vẫn dõi theo
Chòm mây XÁM xịt vắt ngang đèo
Thông XANH vẫy gió say tình lặng
Nước BẠC in hình mỏi mắt nheo
ĐỎ rực bình minh làn nước gợn
VÀNG tươi màu áo cánh tay chèo
Em cười TRẮNG nõn hàm răng đẹp
Tươi thắm má HỒNG đón nắng reo.

Bùi Nguyệt.
 -------------------------
 

Bài họa :   TƯƠNG TƯ
(Họa thơ : “ Ngẫu hứng với mầu của Bạch Hồng Ngọc)

Hoa rừng nở trắng gọi mây theo
Bóng chếch hoàng hôn tím dưới đèo
Mặt xám tương tư hoài niệm nhớ
Môi hồng mộng tưởng để ai nheo
Hình dung đỏ mắt trong mong đợi
Nhớ dáng tóc xanh đã mỏi chèo
Lững thững chiều vàng trên bến vắng
Nhìn dòng suối bạc nước đang reo
                   
                  Nguyễn Đức Pha
-------------------
           
GỬI NGƯỜI VIỄN XỨ
      (Họa thơ BẠCH HỒNG NGỌC)

Chiều Tím bên sông mải dõi theo
Dỉa mây Trắng lượn quấn quanh đèo.
Khói Lam bếp tỏa rầu lòng nhớ
Sóng Bạc nước trôi buồn mắt nheo.
Chuông gióng tiếng Vàng khơi mõ kệ
Thuyền neo lửa Đỏ gác tay chèo.
Hồng người hỡi nơi viễn xứ
Tan tác ngày Xanh mộng có reo!?

                            Phạm Ngọc Toàn
------------------------------------


NGẪU HỨNG VỚI MÀU
 (Họa thơ Bạch Hồng Ngọc)
 
Khấp khởi ngô ĐỒNG mộng rẽ theo

 Bòng bong thổn thức giữa LAM đèo
Xuân cầm NGỌC bút la đà vẽ 

 Hạ dỗ môn HỒNG phấp phỏng nheo
Rộn rã bùi XANH triền bắc đẩy 

 Vòng vo huệ TRẮNG ngả đông chèo
Kiều lan yểu điệu CHÀM thu sớm

 Đẹp đẽ chuông VÀNG gióng giả reo!

Nguyên Xuân
---------------------------
MÀU KỈ NIỆM

Suối tóc đen tuyền phải đạp theo
Dù cho xám dốc hoặc lên đèo
Xuôi đường đỏ dạ bàn chân thả
Ngược nắng xanh lòng cặp mắt nheo
Bạc suối không e bền gậy chống
Chàm sông chẳng ngại vững tay chèo
Lam chiều ngó lại nhìn tươi nụ
Má ửng môi hồng gió họa reo.

Lệ Hà
23-2-14
-----------------------------
MÃI XUÂN

Như ngời sắc phượng ĐỎ hoài theo
Dẫu TÍM chiều thu tuổi trượt đèo
Gió lạnh đông về mây XÁM trải
Tình nồng bạn ghé mắt XANH nheo
HỒNG trần bão quật còn lao tới
BẠC tóc dòng xô vẫn cố chèo
Mỗi độ mai VÀNG xuân thắm nở
Tươi ngần lộc BIẾC dạ bừng reo.

Kiều Thành(23/02/14)

----------------------------

  NẮNG REO

Vẽ một khung trời TÍM lượn theo
VÀNG hoa lữ khách vượt chân đèo
XANH mùa nốt nhạc lời ngân hát
TRẮNG hạ con đường mắt thả nheo
Nước BẠC xôn xao hòa biển lớn
Dòng LAM sóng sánh đẩy vai chèo
HỒNG tươi nét mặt xuân ngời sáng
ĐỎ thắm môi nàng gọi nắng reo

Hoàng Giao
-------------------------


XUÂN NỒNG
 
Xuân nồng ấp ủ mộng VÀNG theo
Cánh mỏng vờn hoa đậu TÍM đèo 
Sợi nắng giăng ĐỒNG say tiếng đợi
Con đường lượn núi XÁM mày nheo 
Hương tình ĐỎ thắm ngời trao ngõ 
Bến nghĩa HỒNG tươi vững bước chèo
Thổn thức trong lòng NÂU xóm nhỏ
Muôn màu điểm BẠC thác hòa reo

24.2.2014
Bạch Hồng Ngọc

----------------

XUÂN QUÊ

Lộng lẫy MAI vàng nắng ruổi theo
Trời xanh vội vã cuốn MÂY đèo
Đông chào xám lạnh MƠ màng duỗi
Tết mãn tươi HỒNG ủy mị nheo 
Lụa tím khen người thơ thẩn NHÃN
Buồm nâu nựng GIÓ thảnh thơi chèo 
Lam chiều hí hửng MÀI phiên chợ
Đỏ mắt BƠ phờ dõi bạn reo.

Lê Như Ngọc

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Một vài cảm nhận về bài thơ "Đường đời" của Bùi Nguyệt


Một vài cảm nhận về bài thơ "Đường đời" của Bùi Nguyệt (17/10/2013) 

ĐƯỜNG ĐỜI

Tìm trong hơi ấm vần thơ
Kết thành vạt nắng xua mờ màn sương
Sáng tâm hồn đẹp văn chương
Quê hương chắp cánh tình thương sóng trào

Sao khuya gợi nhớ đêm nào
Ấm êm tình mẹ ngọt ngào lời ru
Sắc vàng đan áo mùa thu
Gió heo may cũng lãng du lưng trời

Tìm trong đắng đót những lời
Ngăn luồng cát bụi dập vùi đam mê
Gập ghềnh mê lộ tái tê
Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi

Bài thơ vá lại đường đời
Vọng trong sâu thẳm một thời bình yên.
Bùi Nguyệt
Chemnitz, CHLB Đức



Thơ là cộng hưởng của tâm hồn và trí tuệ, là tiếng hát của con tim cất lên khi trầm, khi bổng tùy theo cảm xúc, xuất xứ của nó. Có người lấy thơ để thả hồn vào trời trăng mây nước, có người làm thơ là phương tiện để giao lưu ,ngâm vịnh…Còn Bùi Nguyệt lấy thơ làm người bạn tri âm, tri kỷ, là một bờ vai, một điểm tựa tinh thần không thể thiếu vắng trong cuộc sống của nhà thơ. Cũng như ngày xưa, nhà thơ Phùng Quán cũng đã thốt lên ” Những lúc ngã lòng tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” . Có nằm trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta càng thấy đồng cảm với nhà thơ:

Tìm trong hơi ấm vần thơ
Kết thành vạt nắng xua mờ màn sương


  “Hơi ấm vần thơ” là luồng sinh khí nuôi dưỡng cả tinh thần, thể chất nhà thơ Bùi Nguyệt như ánh sáng mặt trời nuôi dưỡng những mầm xanh, cho thảo mộc vươn cành, tươi lá và xua tan băng giá của tuyết phủ, sương giăng. Có phải chăng, đó là gia đình, bè bạn, quê hương, đất nước kết thành một khối tình vững chắc làm điểm tựa tinh thần nâng nhẹ bước chân và chắp cánh cho hồn thơ bay bổng.

Sáng tâm hồn đẹp văn chương
Quê hương chắp cánh tình thương sóng trào


  Bốn tiểu đối trong hai câu thơ vừa tạo nên sự hài hòa của nhịp điệu, vừa gợi tả niềm vui như sóng biển dâng trào hòa vào tình yêu quê hương
đất nước như một sự đối lập với màn sương mờ mịt ở trên. Từ cảm xúc ấy, nhà thơ như nhìn thấy hình ảnh người mẹ trẻ ngày nào dưới đêm sao, cất tiếng ru con ngọt ngào, êm ấm, trong một không khí thanh bình và tâm hồn phơi phới như làn gió mùa thu “cũng lãng du lưng trời”

Đoc đến đây ,tôi lại nhớ tới câu ca dao: "Gió mùa thu mẹ ru con ngủ/ Năm canh chày thức đủ vừa năm"

           Lời ru trong bài thơ vừa cụ thể vừa khái quát. Ta có thể hiểu - đó cũng là hình ảnh của chủ thể bài thơ đã từng cất tiếng ầu ơ ru các con thơ, trong mái nhà êm ấm. Âu cũng là một dấu ấn đẹp trong cuộc đời của những người phụ nữ nói chung, của nhân vật trữ tình trong bài thơ nói riêng. Bao kỷ niệm khó quên, cứ hiện lên… hiện lên… trong dòng ký ức, càng làm thổn thức trái tim yêu, khơi dậy cả những điều tê tái:

Gập ghềnh mê lộ tái tê
Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi


   Câu thơ đọc lên, nghe như một tiếng thở dài, lay đông tâm can của những ai không vẹn tròn hạnh phúc. Xoáy sâu vào lòng bạn đọc ở tầm khái quát và tính hàm xúc. “Gập ghềnh mê lộ tái tê” Chỉ có 3 từ (hai từ láy và một từ ghép trong một hình ảnh ẩn dụ) thế thôi mà khái quát cả chặng đường đời của người vất vả xa hương. Mê lộ (Đường mê) phải chăng ở đây tác giả muốn nói tới đường tình gập ghềnh, trắc trở đã dẫn đến sự đau khổ, chua xót, tái tê. Hiểu như thế mới thấy được sự logic của câu thơ tiếp "Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi"

  Tục ngữ có câu “ miếng ngon nhớ lâu / đòn đau nhớ đời” Cái nhớ đời của chủ thề bài thơ là “…câu thề chơi vơi”
Câu thề chơi vơi là câu thề theo mây trôi, gió cuốn. có thể đó là lời thề non nguyện biển mang hàm ý thủy chung đến đầu bạc răng long ...Vậy mà người thì nhớ, kẻ thì quên, dẫn đến cảnh tình chia uyên rẽ thúy.

  Thực tế, một điều rất đáng quý của phụ nữ chúng ta là tình yêu chân thật nhưng niềm tin cũng có lúc lại dại khờ. Đời người ta như một ván cờ đi sai một nước là thua cả ván. Chủ thể bài thơ “ Đường đời” có lẽ là người đã rơi vào hoàn cảnh ấy nên bài thơ là một khúc ca buồn. Buồn thì buồn nhưng không bi luỵ, không bất lưc và guc ngã mà vững bước đi lên trên chặng đường phía trước. Lấy thơ “vá lại đường đời". Đường đời là hình ảnh ẩn dụ cuộc đời của mỗi con người. Mỗi cuộc đời ấy cũng như dòng sông có lúc bão giông, có thời yên ả. Cũng có khi lại được ví như chiếc lá qua câu thành ngữ " Lá lành đùm lá rách". Trong văn cảnh bài thơ này, ta có thể hiểu nó ở nhiều khía cạnh khác nhau cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, qua hình ảnh ẩn dụ ở hai câu kết:

Bài thơ vá lại đường đời
Vọng trong sâu thẳm một thời bình yên


           Cái bình yên thẳm sâu quá khứ hiện về làm điểm tựa vươn lên đã khắc họa lên bài " Đường đời" làm rung động tâm hồn bạn đọc, nhất là những
người cùng cảnh ngộ chúng tôi, nơi quê người đất khách.

Ngọc Ánh

Theo nguồn Lucbat.com
 http://lucbat.com/news.php?id=12909

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Nhớ Hà Nội - Thơ Bùi Nguyệt

Nhớ Hà Nội  
Hà Nội đó là những kỷ niệm đẹp về tuổi thơ, tuổi học trò và tuổi trẻ của tôi.  Đã bao năm sống xa Hà Nội như những ngày hè rộn rã tiếng ve kêu gọi hoa Phượng nở.
Những chiều thu se lạnh đượm nồng hoa sữa. Tháp Rùa giữa hồ Gươm xanh biếc cùng bưu điện  thành phố nơi mà những người ở gần, ở xa có dịp đến Hà Nội không thể không ghé thăm.
Hà Nội nay đã và đang được xây dựng hiện đại hơn, rộng lớn hơn song những phố nhỏ,  ngõ nhỏ đã khắc sâu vào tâm hồn làm nao lòng những người con xa xứ. Tôi xin được gửi gắm những tình cảm của mình vào bài thơ: "Nhớ Hà Nội."

NHỚ HÀ NỘI

Chiếu rời đô Vua Lý truyền ban
Dựng Thăng Long ngàn năm văn hiến
Nắng Ba Đình rợp cờ Hà Nội
Bản Tuyên ngôn lời Bác mãi vang

Trao kiếm thần Vua Lê đuổi giặc
Rùa vàng ngậm xanh biếc Hồ Gươm
Cầu Thê Húc tươi hoa phượng nở
Làn gió lay Liễu rủ bên hồ

Năm Cửa Ô cổng chào rộng mở
Đoàn quân về giải phóng Thủ đô
Nước mắt rơi mừng ngày độc lập
Chợ Đồng Xuân tấp nập Hàng Đào

Đường Cổ Ngư Tây hồ gió lộng
Nép bên nhau đón nụ hôn nồng
Nón chao nghiêng má hồng thắm đỏ
Đào Nhật Tân đón nắng xuân sang

Hàng cây xanh soi bóng Thiền Quang
Phố Nguyễn Du hoa sữa nồng nàn
Quyện mái tóc bay chiếu Thu lạnh
Ga Hàng cỏ lưu luyến dần xa...

Tà áo dài nhẹ bay trong gió
Bóng cô gái gánh nước bên hồ
Xác máy bay vẫn còn lưu lại
Hoa Ngọc Hà rực rỡ tỏa hương

Vẫn còn đây ba sáu phố xưa
Chẳng phai mờ từng ngõ, phố nhỏ
Tóc xõa vai áo dài tha thướt
Lắng đọng lòng ai nét mướt mà.

Bùi Nguyệt

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Bình thơ VIẾT CHO CON - Thơ Bùi Nguyệt. Lời bình NT Đinh Nam Khương + Ngọc Ánh


VIẾT CHO CON

Tiếng con gọi mẹ trong đêm
Vòng tay ấm áp êm đềm Mẹ ơi
Ngây thơ trong trẻo những lời
Cứ văng vẳng mãi xa vời canh thâu

Bao mùa lá đã thay màu
Ôm con thổn thức nhịp cầu giấc mơ
Mẹ hòa nước mắt vào thơ
Khẽ ầu ơ... thả vần mờ đêm sương

Cuộc đời của mẹ tha hương
Mưu sinh vất vả vấn vương kiếp người
Tóc xanh sương tuyết nhuộm rồi
Kết thành cánh võng ru hời bóng con.,.
Bùi Nguyệt
------------
HÒA THƠ VÀO NƯỚC MẮT
Lời bình của nhà thơ Đinh Nam Khương
Hội viên hội nhà văn Việt Nam


Từ xưa tới nay, trên thi đàn thơ ca Việt Nam và thế giới, mỗi nhà thơ thường có một số bài thơ làm rung động trái tim người đọc và tỏa sáng tới mai sau. Hầu hêt những bài thơ ấy đều là những bài thơ viết về mẹ, về con nhất là những trường hợp xa cách, thương nhớ đến mòn mỏi! Vì những bài thơ ấy không phải viết ra bằng văn chương chữ nghĩa hào nhoáng; không phải viết ra bằng sự lạnh lùng của trí thông minh; mà nó được viết ra từ trái tim ấm nóng; nhớ thương khắc khoải. Được viết ra trong sự trào dâng cảm xúc từ tấm lòng nhân ái của người viết đối với mẹ hoặc con. Nó thường được thể hiện bằng ngôn ngữ mộc mạc và chân thành nhất máu thịt nhất. Không hề pha trộn một ít giả dối hoặc vỏ bọc của những ngôn từ sáo rỗng. Đó là những bài thơ thương thật! Nhớ mong thật! Sung sướng và khổ đau thật! Những bài thơ như thế; ngay từ trong cốt lõi của nó đã chứa đựng sự hấp dẫn và thuyết phục. Làm cho người đọc phải ứa lệ !... Bài thơ "Viết cho con" của nhà thơ Bùi Nguyệt người Việt Nam đang sinh sống ở Cộng Hòa Liên Bang Đức cũng không ngoài trường hợp đó …
Tác giả đã chọn thể thơ lục bát- một thể thơ truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam mang đậm bản sắc độc đáo của người Việt Nam, rất gần gũi với tâm hồn và hơi thở cuộc sống thường ngày của người Việt Nam để miêu tả tình cảm dạt dào của người mẹ đối với đứa con máu thịt của mình sau 25 năm xa cách. Tình cảm đó đã được kìm nén và cô đúc lại trong 12 câu thơ lục bát ngắn gọn với ngôn ngữ giản dị, trong sáng mà ta vừa tìm thấy trên đỉnh núi cao của văn chương chữ nghĩa chứ không phải là sự nôm na, dông dài. Nó luôn được hiện lên lấp lánh qua những hình tượng kỳ diệu của thi ca với những cảm xúc thẩm mĩ rất đẹp.
Ở phương trời xa lạ, để mưu sinh, để chắp cánh cho con bay đến chân trời mơ ước, 25 năm xa cách, 25 năm "Lá đã thay màu" Không có đêm nào nhà thơ – người mẹ Bùi Nguyệt lại không nghe thấy tiếng con gọi:
"Ngây thơ trong trẻo những lời
Cứ văng vẳng mãi xa vời canh thâu"
25 năm nghe tiếng con gọi trong những đêm xa cách ấy; Bùi Nguyệt đã "Hòa nước mắt vào thơ" bên ngọn đèn cô đơn và trước những trang giấy trắng. Để tình cảm của chị bay lên trong sự thăng hoa cùng những vì sao xa xôi nơi phương trời thương nhớ... Cứ thế cảm xúc trong thơ luôn vận động và phát triển đến đỉnh cao trào dâng của tâm hồn. Đó chính là lúc bài thơ đã khép lại và mở ra những cửa sổ lớn của tâm trạng với 4 câu thơ tài hoa hé lộ tài năng và sức sáng tạo của người viết:
Cuộc đời của mẹ tha hương
Mưu sinh vất vả vấn vương kiếp người
Tóc xanh sương tuyết nhuộm rồi
Kết thành cánh võng ru hời bóng con
Hai câu thơ cuối cùng đó là sự xuất thần của ngòi bút, nó tỏa sáng và mang lại ý nghia cho toàn bài, nâng nghệ thuật của bài thơ lên một tầng cao mới . Hình tượng mái tóc xanh của mẹ sau 25 năm xa cách và nhớ thương con vô hạn giờ đã trở thành một mái tóc bạc. Mái tóc bạc ấy đã bện thành một cánh võng êm ái để ru bóng con. Vì thân xác của con còn cách mẹ một khoảng trời xa lắc.Lục bát là một thể thơ cũ kĩ đến cổ xưa nhưng dưới ngòi bút của Bùi Nguyệt đã trở nên mới mẻ và độc đáo một cách kì lạ.Tôi thực sự phải nghiêng mình trước hai câu thơ này của chị.
Rất mong chị luôn mạnh khỏe và may may mắn ở phương trời xa lạ để luôn nhớ về tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Nơi có mái nhà bình yên của chị, nơi có những giọt máu đào ấm nóng đang nhớ về trái tim thổn thức của chị - một trái tim đa cảm và tràn đầy vẻ đẹp của tâm hồn thi ca Việt Nam.


Nhà thơ Đinh Nam Khương
Hội viên hội nhà văn Việt Nam

------------

LỜI BÌNH “ VIẾT CHO CON”
    Ngọc Ánh

Đọc “Viết cho con” chắc hẳn ai cũng thương người mẹ vì trong tất cả nỗi buồn trần thế, thì có lẽ là  nỗi buồn của người mẹ phải xa con là tê tái nhất, giày vò nhất.

Mở đầu bài thơ:
Tiếng con goi mẹ trong đêm.
Vòng tay ấm áp êm đềm mẹ ơi
Ngây thơ trong treo những lời
Cứ văng vẳng mãi xa vời canh thâu
Hình ảnh con thơ vòng tay ôm cổ mẹ cất tiếng gọi” ngây thơ trong trẻo”, ta có cảm giác là đứa con đang trong vòng tay mẹ thật, người mẹ đang cảm nhận cả sự êm đềm, ấm áp của  con bằng xúc giác của mình, Nhưng tội nghiệp thay bởi đó chỉ là sự tưởng tượng mà thôi. Nhớ con quá mà hóa thành hoang tưởng tiếng con văng vẳng mãi canh thâu. Xét về mặt tâm lý đây là câu thơ rất thật của trạng thái người mẹ mà nỗi nhớ con gần tới mức có thể phát điên lên được? Đây là nỗi đau buồn rất thực được thể hiện bằng thơ

 Chỉ có bốn câu thơ thôi mà ta cảm nhận được cả không gian và thời gian của tiếng con gọi mẹ. Không gian là cách xa vời vợi, thời gian là trong đêm tối. Ôi! Trong đêm mới càng thêm xót xa, tê tái ở cảnh tình mẹ phải xa con, con phải xa mẹ

Thương cho số phận hồng nhan, thương cho người phụ nữ Việt Nam phải đứt ruột xa con mà  tha hương cầu thực:

                                   Cuộc đời của mẹ tha hương
                                  Mưu sinh vất vả vấn vương kiếp người
Để rồi, trời ơi! Chỉ nghe tiếng con trong thần giao cách cảm, trong tâm tưởng hoăc trong giấc mơ mà thôi! và có lẽ là ở trong tâm tưởng nên mới hình dung được sự mềm mại, ấm áp và  tiếng con “ngây thơ trong trẻo”. Vì trong tâm tưởng nên mới hòa nước mắt vào thơ“ và "khẽ ầu ơ” cho vợi đi niềm thương nỗi nhớ:

Mẹ hòa nước mắt vào thơ
Khẽ ầu ơ…thả vần mờ đêm sương
 Câu thơ hay quá! Ẩn dụ nhưng không hề ẩn dụ - đó là nỗi đau rất thật, nước mắt ròng ròng thật đấy chứ. Nên thơ là nước mắt, nước mắt là thơ, chảy suốt canh thâu dưới sương mờ thổn thức. Ôi! Cả một không gian buồn bao trùm lên một tâm hồn cô đơn, trống trải

 Ta khó thể tưởng tượng được vì không phải một vài đêm, một vài tháng, một  vài năm như thế đâu, mà nỗi buồn đau này  đã gặm nhấm cả cuộc đời nữ sỹ từ lúc tóc còn xanh cho đến khi điểm bạc

                                    Tóc xanh sương tuyết nhuộm rồi
                                    Kết thành cánh võng ru hời bóng con.
 Câu thơ “ Tóc xanh sương tuyết nhuộm rồi” vừa diễn tả được sự gian lao, vất vả, vừa nói lên sự chuyển hóa về tuổi tác của nhà thơ. Tính hàm xúc khá rõ nét trong thơ Bùi Nguyêt. Đó là điều đáng trân trọng và ghi nhận.

Khép lại bài thơ là một hình ảnh đẹp – đẹp như sự hy sinh bản thân mình để nuôi con khôn lớn, trưởng thành của nhà thơ. Cả cuộc đời nữ sỹ đã hóa thành cánh võng ru con.

Cám ơn nhà thơ Bùi Nguyệt đã khắc lên thi đàn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam hy sinh tất cả vì con, rất đáng  yêu thương và quý trọng:

Ngọc Ánh

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thơ:Thanh Giang - Giã từ phố núi.



Giã từ phố núi





Phố núi nơi tôi sắp đi xa

Để lại những tâm tình thiết tha

Những con đường nhỏ chan hoà ánh nắng

Lao xao triền dốc núi gập ghềnh

Rủ buồn những khóm bạch dương trầm lắng

Khu rừng già bình yên tĩnh lặng

Dang rộng tán cho loài chim hát vui

Phố núi bao kỷ niệm trong tôi


Những buổi chiều thu buồn man mác

Nhặt chiếc lá phong vàng lác đác rơi

Tháp chuông nhà thờ như đang bơi

Dưới đáy lòng hồ nước xanh trong vắt


Tuyết trắng mùa đông nhìn ngút mắt

Con đường dốc ngoằn ngoèo tít tắp xa

Phố núi của những người bạn ta

Từ khắp nơi đồng hành tứ xứ


Kiếp sống tha phương cuộc đời lam lũ

Hơn nửa đời người quên thân mình

Coi thường tuyết sương vì nghiệp mưu sinh

Để dành được những phút yên bình


Quyện tụ lại cười thâu đêm suốt sáng

Phố núi của tuổi thơ trong trắng

Những khuôn mặt xinh xắn ngây thơ

Giọng nói trong veo như trong giấc mơ


Chuyện cổ tích đời thường vẫn kể

Cái thiện cái ác bảo ban nhân thế

Những đứa con tình thần phố núi

Bài học cho tôi cách sống làm người






Phố núi thân yêu tôi sắp xa rồi
Đừng quên tôi nhé bạn đời viễn xứ

Dù trôi dạt bốn phương trời trú ngụ

Gia đình thân yêu, phố núi tình người.

Chemnitz 22/08/2012

Tặng những người bạn thành phố núi.

Thanh Nguyên.(Thanh Giang)

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Thơ Bùi Nguyêt . LÀN QUAN HỌ DƯỚI TRỜI TÂY




                                                                   Ảnh Minh Hải, Chemnitz

LÀN QUAN HỌ DƯỚI TRỜI TÂY

Chao nghiêng vành nón quai thao
Ngọt ngào Quan họ chênh chao mạn thuyền
Mượt mà khúc hát trao duyên
Trên màn ảnh nhỏ bỗng nhiên hiện về

Trời Tây sương phủ tứ bề
Lá Phong gói cả lời thề thuở xưa
Thương nhau biết mấy cho vừa
Dịu dàng hương sắc gió mưa dãi dầu

Đậm đà thấu hiểu lòng nhau
Tình em dải lụa bắc cầu vẫn đây
Làn Quan họ dưới trời Tây
Mà xao xuyến dạ mà ngây ngất tình

Bao giờ hai đứa chúng mình
Theo liền chị với liền anh hẹn hò
Trải bao tháng đợi năm chờ
Cùng Trăng soi bóng bình thơ bên thềm!


Bùi Nguyệt

Bài trong tập thơ HỒN NÚI 
-------------

Thơ Thanh Giang - MƠ ƯỚC GÌ

                                                            

 
      
Mơ ước gì?


 Mơ ước gì giữa mênh mông tuyết trắng?

Buốt giá cõi lòng thèm xuân mang nắng

Sắc mai vàng tươi thắm khẽ lung linh

Không gian ngập tràn tia sáng bình minh


Mơ ước gì đón giao thừa viễn xứ?

Tiếng  pháo xuân òa vỡ xóa màn đêm

Ánh lửa ân tình cùng nhen nhóm lên

Tay chạm cốc đưa men say tuyệt đỉnh


Mơ ước gì giữa dòng đời toan tính?

Nghi ngút khói hương cầu nguyện an lành

Mùa xuân mang về bao lộc chồi xanh

Bao ánh mắt thân quen dần hiện diện


Mơ ước gì bao thân thương lưu luyến?

Tuổi thơ trở về xao xuyến nhớ mong

Khoanh tay” mừng tuổi” háo hức chờ trông

Từ”lì xì”luôn quen thân  tuổi  trẻ


Mơ ước gì đời không còn nhỏ bé?

Tiền lì xì có ý nghĩa gì đâu

Tuyết lạnh buông lơi phủ trắng mái đầu

Thèm bước qua cầu miền quê đón Tết


Thời gian buông trôi dòng đời chênh chếch

Tưởng đã  xa, nhưng lại hóa rất gần

Nghĩ đã phai rồi, vẫn rất quen thân

Khi Tết đến chợt lâng lâng nổi nhớ

Với quê hương ta mãi là con nợ

Nặng nghĩa nặng tình biết trả làm sao?

Mỗi lần Tết qua, dòng chảy trôi mau

Bụi thời gian làm chuyển màu mái tóc


Vội đến vội đi xuân như cơn lốc

Xin mang cho đất khách chút nắng xuân

Mắt ướt lệ nhòa cảm xúc rưng rưng

Trong giá lạnh bâng khuâng bàn chân bước


Xin chúc cho những ngã  đường phía trước

Lối rẽ dọc ngang chồi lộc đong đầy

Hạnh phúc  tình yêu thắm đậm tháng ngày

Xuân hứa hẹn, một mai tròn nguyện ước   
    
29/01/2014 
Thanh Giang(Thanh Nguyen)
                                   

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

THƠ VALENTINE - Mảnh vườn xinh




 Mảnh vườn xinh
 ( Thơ họa )


Thơ xuân thắm nở ở vườn xinh
Long lanh kết nắng vàng bầu bạn
Tỏa ngát hương dưới trăng vàng êm ả
Để xua tan luồng gió chướng không lành


Hoa thắm hồng lá mãi biếc xanh
Được vun trồng trong vườn không cát bụi
Không khí trong lành không vương mùi khói
Nên ngọt ngào nguyên vẹn sắc hương hoa

Mảnh vườn xinh tô đẹp cảnh đẹp nhà
Hồn thơ quyện tấm lòng trong như ngọc
Tình yêu đẹp kết khối tình bền chặt
Nên nồng nàn trong mỗi tiếng anh - em



Ngày Valentin xao xuyến bình yên
Gửi sắc hương hồng nhung thắm đỏ
Đã vun trồng những tháng ngày tuyết gió
Ấp ủ trong vương vấn đợi chờ. 

 Bùi Nguyệt, Chemnitz

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

BIỂN MƠ - Thơ Bùi Nguyệt nhân ngày Valentin



BIỂN MƠ

Ngày tình yêu đã đến
Kỷ niệm xưa tràn về
Bông hồng trong sắc nắng
Vẫn tươi màu đam mê

Em đi từ thuở ấy
Mang theo mối tình xưa
Đông qua rồi xuân tới
Kỷ niệm hòa gió mưa

Nụ hôn nồng ngày ấy
Cùng hơi thở xa xăm
Theo em bao năm tháng
Giữa dòng đời mênh mang

Xuân chớm về nơi đây
Hồn em dần ấm lại
Tình anh em nhớ mãi
Cánh hồng chẳng nhạt phai

Hơi lạnh ướt vần thơ
Em vẫn giữ, vẫn chờ
Sợi nắng vàng anh gửi
Vương vấn chiều biển mơ…


Bùi Nguyệt

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

BÓNG THỜI GIAN




BÓNG THỜI GIAN

Miệt mài cùng với bóng thời gian
Bao khát vọng âm thầm tự hỏi
Chặng đường dài bóng câu mòn mỏi
Hối hả dòng đời gạn đục trả - vay

Thời gian xưa có dịu ngọt đắng cay
Lắm  lúc ngây ngô tưởng khôn mà dại
Giữa thực hư sóng biển đời tê tái
Gập ghềnh trong lúc thực lúc mơ

Gom sợi thời gian ta dệt những vần thơ
Trải tấm thảm vòng quay còn phía trước
Để hòa tan trong nhịp sống dâng trào
Được đắm mình trong hương đất xôn xao
Cho nắng xuân cõng hồn thơ vào mạch cảm

Ôi! bóng thời gian cũng định hình tối sáng
Trước tầm nhìn rực rỡ ánh bình binh
Cho thời gian thắp lửa trái tim mình
Đón ta về trong vòng xoay vũ điệu.

Bùi Nguyệt
Chemnitz, CHLB Đức


Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

BỤI XUÂN - HOA TUYET ( Tho Xuong - Hoa)




BỤI XUÂN

Xuân thả bụi mưa theo gió bay
Xuống cùng ai, đọng ướt vai gầy
Thẹn thùng nàng nép sau khung cửa
Ngơ ngẩn tôi chờ trước gió lay
Có biết chăng em tình vẫn thức
Hay đà quên những tháng nồng say
Đào đang nở rộ mai khoe sắc
Trời đất giao hòa đón nắng đầy…
Ngọc Châu
-----------
HOA TUYẾT
Họa thơ: BỤI XUÂN

Lả tả bốn bề hoa tuyết bay
Hàng thông trĩu nặng buốt thân gầy
Đâu nghe vi vút muôn cành động
Vẫn thấy điệu đàng những nhánh lay
Khúc khích xuân về xua giá lạnh
Nồng nàn hương tỏa dậy mê say
Hòa trong tiếng pháo Giao thừa nổ
Nghĩa thắm tình quê mãi mãi đầy.
Bùi Nguyệt

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

NĂM NGỌ TẢN MẠN VỀ NGỰA – Trần Vân Hạc

Theo nguon: VanHac.org


NĂM NGỌ TẢN MẠN VỀ NGỰA

Trong 12 con giáp, ngựa là con vật gần gũi, thân thiết và giúp ích cho con người nhiều nhất, không những thế ngựa còn là nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, điêu khắc… Song ngựa xuất hiện nhiều nhất trong tục ngữ, ca dao trong suốt cuộc hành trình 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhiều khi ngựa trở thành một ẩn dụ để nói về con người và cuộc sống.
Nói về ngựa trước hết người ta chú ý về dáng vóc thanh nhã và oai phong. Ngựa toàn thân có mầu trắng gọi là ngựa bạch, trắng chen một ít đen gọi là ngựạ kim, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha chút đỏ gọi là ngựa khứu, đen pha đỏ nhiều hơn gọi là ngựa hởi, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, trắng đen pha chút đỏ là ngựa đạm, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là ngựa vằn… Đặc biệt những con ngựa có chân cao, cổ dài, ngực thon, mũi khô, mắt sâu và sáng, tai và bốn gối có xoáy – (Tứ mục trung đồng), đích thị là thiên lý mã. Còn những con ngựa bạch mồm đỏ, mũi đỏ, đúng chính ngọ đứng im không nhúc nhích và có đôi mắt màu trắng như mây, chung quanh con ngươi có một vành màu đồng lửa, khi mặt trời đứng bóng mắt như bị lòa nhưng trong đêm tối đôi mắt bắt ánh sáng đèn đỏ như đốm lửa, vào giờ chính tuất nếu dùng đèn soi vào mắt đồng sẽ chuyển từ hình tròn sang hình chữ nhật có dạng nằm ngang, bốn chân đều có móng sừng màu cước ánh bạc, mỗi bước đi cứ ngời lên trong nắng là vô cùng quí hiếm, vạn con có một.
Thuở xưa ngựa là một phương tiện đắc lực trong giao thông và chinh chiến. Trong tâm thức người dân đất Việt không bao giờ phai mờ hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân rồi bay về trời không màng vụ lợi và câu thơ bất hủ của Vua Trần Nhân Tông: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông nghìn thuở vững âu vàng”. Để chuẩn bị lực lượng chống giặc, để rèn luyện quân binh, người xưa thường nói “chiêu binh mãi mã”. Còn khi khắc họa hùng tâm tráng khí của người ra trận dân gian lại dùng hình ảnh vô cùng đắc địa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng mà trong Chinh phụ ngâm cũng có câu không kém phần khí khái “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”.
Còn trong dân gian, ngựa xuất hiện vô cùng sinh động từ bài đồng dao: “Nhong nhong ngựa ông đã về, cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn…”, cho đến trong tục ngữ, thành ngữ, ca dao: Ngựa cũng rất có tình với chủ, với bầy: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” nhưng cũng nói lên tình đoàn kết gắn bó giữa những người cùng một nhóm hay cộng đồng có chung tình cảm hay lợi ích. Ngựa cũng rất nhanh thuộc đường:“Ngựa quen đường cũ” nhưng cũng ám chỉ những thói hư, tật xấu khó bỏ. Rồi cái tính hấp tấp, chưa có kinh nghiệm đường đời đã vội vã để rồi không thành công:“Ngựa non háu đá”,” Và chỉ sự công thành danh toại, xa hoa phú quí: “Lên xe xuống ngựa” … Thật là muôn hình muôn vẻ, nói về ngựa nhưng chính là nói về người với những hoàn cảnh, cá tính và trạng thái tâm lý khác nhau. Rồi: “Ngựa hay chẳng quản đường dài. Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng”, qua các kiểu đi của ngựa: “nước kiệu” (đi chậm), “nước trung” (đi vừa), “nước đại” (phi nhanh)… Nó sẽ bộc lộ những mặt mạnh hay yếu của con ngựa. Con người cũng vậy, qua giao thiệp những mặt ưu và khuyết sẽ hiện ra rõ hơn. “Ngựa hay lắm tật”, muốn nói những người có tài thường có những tật xấu, đồng nghĩa với “lắm tài nhiều tật”. “Thẳng ruột ngựa”, để nói người thẳng thắn, không úp mở. Để chỉ sự nguy hiểm, tục ngữ có câu: “Hàm chó vó ngựa”, hoặc “Mó dái ngựa”. chỉ sự ganh đua lố bịch lại có câu “ngựa lồng, cóc cũng lồng”. Khi chỉ kẻ xấu lại có câu: “đầu trâu mặt ngựa”. Khi chỉ sự thay đổi trắng đen của lòng người khó dò, ta thường nói “ngựa hươu thay đổi”. Chỉ sự khổ cực: “Làm thân trâu ngựa”, “Ngựa dập voi giày”. Ngựa nhanh nhẹn hơn nhiều loài động vật khác nên được ví với tốc độ: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” – một lời đã nói ra, bốn ngựa phi theo không kịp). “Đường dài hay sức ngựa”, qua thời gian, người ta có thể đolường được những phẩm chất ta một người nào đó. Từ ý nghĩa thực đặc tính của ngựa những nghẹ sĩ dân gian đã sử dụng như một biện pháp nghệ thuật tượng trưng ước lệ để người nghe người nghe nắm bắt lấy cái phần thông tin chủ yếu đầy ẩn ý thâm thúy và sâu sắc đàng sau mỗi câu, mỗi hình ảnh nghệ thuật. Còn rất nhiều những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao nói về ngựa, mượn hình ảnh và đặc tính của ngựa để nói về con người một cách dung dị và sâu sắc.
Năm Giáp Ngọ đã đến, chúng ta tin sẽ là con “Thiên lý mã” và hy vọng đất nước ta sẽ có bước phát triển mạnh mẽ với tinh thần và sức mạnh của Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt vượt qua bất cứ một trở lực nào để giành lấy chiến thắng.


Xuân Giáp Ngọ 2014 
Trần Vân Hạc