Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

ĐƯỜNG ĐỜI -Thơ Bùi Nguyệt - LỜI BÌNH CỦA NGỌC ÁNH




ĐƯỜNG ĐỜI
 

 Tìm trong hơi ấm vần thơ
Kết thành vạt nắng xua mờ màn sương
Sáng tâm hồn đẹp văn chương
Quê hương chắp cánh tình thương sóng trào


Sao khuya gợi nhớ đêm nào
Ấm êm tình mẹ ngọt ngào lời ru
Sắc vàng đan áo mùa thu
Gió heo may cũng lãng du lưng trời


Tìm trong đắng đót những lời
Ngăn luồng cát bụi dập vùi đam mê
Gập ghềnh mê lộ tái tê
Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi


Bài thơ vá lại đường đời
Vọng trong sâu thẳm một thời bình yên.

Bùi Nguyệt
Chemnitz, CHLB Đức

------------------
LỜI BÌNH CỦA NGỌC ÁNH

Thơ là cộng hưởng của tâm hồn và trí tuệ, là tiếng hát của con tim cất lên khi trầm, khi bổng tùy theo cảm xúc, xuất xứ của nó. Có người lấy thơ để thả hồn vào trời trăng mây nước, có người làm thơ là phương tiện để giao lưu ,ngâm vịnh…Còn Bùi Nguyệt lấy thơ làm người bạn tri âm, tri kỷ, là một bờ vai, một điểm tựa tinh thần không thể thiếu vắng trong cuộc sống của nhà thơ. Cũng như ngày xưa, ông Phùng Quán cũng đã thốt lên” Những lúc ngã lòng tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” . Có nằm trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta càng thấy đồng cảm với nhà thơ:
Tìm trong hơi ấm vần thơ
Kết thành vạt nắng xua mờ màn sương
“ Hơi ấm vần thơ” là luồng sinh khí nuôi dưỡng cả tinh thần, thể chất nhà thơ Bùi Nguyệt như ánh sáng mặt trời nuôi dưỡng những mầm xanh, cho thảo mộc vươn cành, tươi lá và xua tan băng giá của tuyết phủ, sương giăng. Có phải chăng, đó là gia đình, bè bạn, quê hương, đất nước kết thành một khối tình vững chắc làm điểm tựa tinh thần nâng nhẹ bước chân và chắp cánh cho hồn thơ bay bổng.
Sáng tâm hồn đẹp văn chương
Quê hương chắp cánh tình thương sóng trào
Bốn tiểu đối trong hai câu thơ vừa tạo nên sự hài hòa của nhịp điệu, vừa gợi tả niềm vui như sóng biển dâng trào hòa vào tình yêu quê hương đất nước như một sự đối lập với màn sương mờ mịt ở trên.
Từ cảm xúc ấy, nhà thơ như nhìn thấy hình ảnh người mẹ trẻ ngày nào dưới đêm sao, cất tiếng ru con ngọt ngào, êm ấm, trong một không khí thanh bình và tâm hồn phơi phới như làn gió mùa Thu “cũng lãng du lưng trời”
Đoc đến đây ,tôi lại nhớ tới câu ca dao
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ vừa năm
Lời ru trong bài thơ vừa cụ thể vừa khái quát. Ta có thể hiểu – đó cũng là hình ảnh của chủ thể bài thơ đã từng cất tiếng ầu ơ ru các con thơ, trong mái nhà êm ấm. Âu cũng là một dấu ấn đẹp trong cuộc đời của những người phụ nữ nói chung, của nhân vật trữ tình trong bài thơ nói riêng. Bao kỷ niệm khó quên, cứ hiện lên… hiện lên… trong dòng ký ức, càng làm thổn thức trái tim yêu, khơi dậy cả những điều tê tái:
Gập ghềnh mê lộ tái tê
Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi
Câu thơ đọc lên, nghe như một tiếng thở dài, lay đông tâm can của những ai không vẹn tròn hạnh phúc. Xoáy sâu vào lòng bạn đọc ở tầm khái quát và tính hàm xúc. “Gập ghềnh mê lộ tái tê” Chỉ có 3 từ (hai từ láy và một từ ghép trong một hình ảnh ẩn dụ) thế thôi mà khái quát cả chặng đường đời của người bất hạnh. Mê lộ (Đường mê) có lẽ ở đây tác giả muốn nói tới đường tình gập ghềnh, trắc trở đã dẫn đến sự đau khổ, chua xót, tái tê. Hiểu như thế mới thấy được sự logic của câu thơ tiếp
Gạn trong nỗi nhớ câu thề chơi vơi
Tục ngữ có câu “ miếng ngon nhớ lâu / điều đau nhớ đời” Cái nhớ đời của chủ thề bài thơ là “…câu thề chơi vơi”
Câu thề chơi vơi là câu thề theo mây trôi, gió cuốn. có thể đó là lời thề non nguyện biển mang hàm ý thủy chung đến đầu bạc răng long …Vậy mà người thì nhớ ,kẻ thì quên, dẫn đến cảnh tình chia uyên rẽ thúy.
Thực tế, một điều rất đáng quý của phụ nữ chúng ta là tình yêu chân thật nhưng niềm tin cũng có lúc lại dại khờ. Đời người ta như một ván cờ đi sai một nước là thua cả ván. Chủ thể bài thơ “ Đường đời” có lẽ là người đã rơi vào hoàn cảnh ấy nên bài thơ là một khúc ca buồn.
Buồn thì buồn nhưng không bi luỵ mà vững bước đi lên trên chặng đường phía trước.Tâm hồn thi sỹ vẫn như khoảng trời xanh đã và đang vá lại. chắc chắn nó sẽ đẹp và còn đẹp mãi trong lòng bạn đọc.nhất là những người cùng cảnh ngộ, cũng đã từng
Lấy thơ “ vá lại đường đời
Vọng trong sâu thẳm một thời bình yên”

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

ĐẸP VỚI ĐỜI - Bùi Nguyệt



ĐẸP VỚI ĐỜI
 

Thế thái nhân sinh chuyện đã rôi
Đường dài đắng đót 
chẳng chơi vơi
Hoa kia 
nhạt nắng nên không thắm
Lá ấy đầm mưa vẫn rất tươi
khi thấy tâm tình không rộng mở
Cho nên chia sẻ cũng vừa thôi
Khoảng trời thơ phú luôn bay bổng

Khúc nhạc chung vui đẹp với đời.

Bùi Nguyệt, CHLB Duc

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

VẤN VƯƠNG - Bùi Nguyệt

                                                         

Vấn vương

Nhìn ảnh bâng khuâng nhớ mái trường
Thầy trò bè bạn rất yêu thương
Thắm tươi cánh phượng còn in đậm
Dĩ vãng hiện về cứ vấn vương.


Bùi Nguyệt 
--

CÁNH PHƯỢNG XƯA -Thơ Bùi Nguyệt - Nhạc Phan Văn Bích - Ca sỹ Thiện Thảo
http://www.youtube.com/watch?v=8x2rlOPN1GY





Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

CẢM NHẬN BÀI THƠ - SAO ANH HỜ HỮNG

 

 SAO ANH HỜ HỮNG
        Mắt buồn nhìn về cuối dòng sông
        Hoàng hôn giấu giọt nắng cuối cùng
        Bâng khuâng, em nhớ, em chờ mãi
        Nhòa lệ... "anh còn nhớ em không?"
        Cứ mong, cứ đợi, cứ chờ trông?
        Mà anh hờ hững chẳng mủi lòng
        Ước gì em không mong anh nữa
        Để đỡ đau lòng... mỏi mắt trông.
        Hỏi lòng lần nữa - Giữa mênh mông
        Còn nhớ tình ta những đêm nồng
        Hoa em nở mãi - Hương chờ đón.
        Phương xa, từng đêm... em vẫn mong.
        Quỳnh Nga (Berlin)

 Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn trên sông, trong tâm trạng bâng khuâng, nhung nhớ bạn tình:   
        Mắt buồn nhìn về cuối dòng sông
        Hoàng hôn giấu giọt nắng cuối cùng
Sông thì cuối dòng, ngày thì cuối ngày, giọt nắng cũng cuối cùng. Điệp từ “Cuối” nằm trong các hình ảnh ở đây gợi cho ta sự liên tưởng và đồng cảm cùng tác giả. Tác giả nhìn về cuối dòng sông hay chính là đang nghĩ về cuối dòng đời? Và giọt nắng cuối cùng kia phải chăng cũng là tia hy vọng cuối cùng về một người ở chân trời xa xôi tít tắp? Quả thật, rất logic với hai câu thơ tiếp
         Bâng khuâng, em nhớ, em chờ mãi
        Nhòa lệ... "anh còn nhớ em không?"
Cảnh và tình trong khổ thơ cùng chung một gam buồn. Em buồn cũng đúng thôi, vì em đã nhớ nhiều mong mãi, và sự nhớ thương, chờ đợi ấy không kìm nổi hai dòng lệ ứa chẳng biết là “Anh còn nhớ em không”? Một câu hỏi tu từ đặt đúng chỗ làm cho sự mong chờ khắc khoải đươc dâng lên theo dòng cảm xúc.
Xuyên suốt cả bài thơ
        Cứ mong, cứ đợi, cứ chờ trông?
        Mà anh hờ hững chẳng mủi lòng
Điệp từ “cứ”đi kèm với các từ đồng nghĩa khác âm: “mong - đợi - chờ - trông“ thể hiện khá rõ sư chờ mong triền miên, dai dẳng, mỏi mòn. Chứng tỏ em đã rất sâu tình, nặng nghĩa với anh, vậy mà anh thì “ Hờ hững chẳng mủi lòng”. Hai hình ảnh tương phản nằm trong một câu thơ, gây ấn tượng khá mạnh cho người đọc. Em thì yêu anh say đắm, hết mình còn anh thì phụ tình, vô cảm. Xúc động nhất là khi đọc câu:
       Ước gì em không mong anh nữa
        Để đỡ đau lòng... mỏi mắt trông.
Một điều "ước" khá lạ lùng đã xoáy vào tâm can bạn đọc.Thông thường người ta chỉ ước những gì to tát, lớn lao còn em (nhân vật trữ tình trong bài thơ) chỉ ước “Em không mong anh nữa”. Thế mới biết: khi người ta đã sâu tình nặng nghĩa với nhau thì khó phai mờ lắm. Anh ơi! Em muốn quên anh mà quên không được. Đây là cách thể hiên tình yêu khá độc đáo và rất chân thực của tác giả.Tôi nhớ lại câu thơ của một nhà thơ mà tôi không nhớ tên
"Trước kia thì tập nhớ
  Bây giờ thì tập quên"
Chính vì vậy mà nỗi nhớ, niềm mong cứ canh cánh trong lòng.
Hỏi lòng lần nữa - Giữa mênh mông
Còn nhớ tình ta những đêm nồng
 Lại một câu hỏi tu từ nữa gửi vào hư không, vô vọng, giữa mênh mông dòng đời. Những kỷ niệm nồng say êm ấm cứ hiện về. Càng hiện về càng khao khát, càng khao khát thì càng thiết tha mong đợi.
Hoa em nở mãi - Hương chờ đón
Phương xa, từng đêm.. em vẫn mong.
"Hoa em nở mãi " là hình ảnh ẩn dụ hương sắc người phụ nữ vẫn mãi xinh tươi, đầy sức xuân, quyến rũ, ngập tràn, mãnh liệt. Nếu "Hoa em nở mãi" là sắc, thì " Hương chờ đón" là tình, là hương thơm của tình yêu, tình em vẫn dành cho anh mãi mãi. 
Câu thơ lãng mạn có sức gợi cảm mạnh đã truyền tải được niềm khát khao rực cháy của tác giả đến với bạn đọc, cũng như Hồng Tấn Anh đã viết:
                  Một lần hoa nở đêm nay
           Là dâng hiến trọn hương này cho anh
  Vì thế mà " Phương xa, từng đêm.. em vẫn mong"
Câu thơ cuối cùng- tác giả sử dụng hầu hết là thanh bằng chỉ duy nhất một thanh trắc, khi đọc lên nghe như tiếng thở dài não nuột, tan loãng vào đêm vắng nhưng đọng lại trong ta hình ảnh người phụ nữ khắc khoải trong những đêm dài trằn trọc mong đợi anh về.
Bài thơ "Sao anh hờ hững" đâu chỉ là tiếng lòng của tác giả, mà có lẽ cũng là tâm cảnh chung của những mối tình dang dở, khá phổ biến trong cuộc sống hiện nay.
 Bài thơ kết cấu và bố cục chặt chẽ. Tứ thơ được phát triển theo trình tự tuyến tính rất hợp lý, mang đậm tính nhân văn lại có tầm khái quát rộng. 

Bùi Nguyệt
Chemnitz, CHLB Đức

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

TÁC PHẨM ĐẦU - Cảm nhận khi đọc"THƠ VIỆT Ở ĐỨC"


 


TÁC PHẨM ĐẦU
Cảm nhận khi đọc"THƠ VIỆT Ở ĐỨC"

Con Hồng cháu Lạc dưới trời Âu
Chung sức viết nên tác phẩm đầu
Trí tuệ sáng soi vào hiện thực

Tấm lòng son gửi tới mai sau
Ngôn từ lấp lánh nâng tầm bút
Hình ảnh lung linh hiện sắc màu
Văn hóa cội nguồn luôn mở rộng
Song hành nhịp bước với năm châu.

Bùi Nguyệt
Chemnitt, CHLĐức
-------------------
BUỔI RA MẮT TẬP "THƠ VIỆT Ở ĐỨC" tại LITERATURHAUS - BERLIN
( Nơi gặp gỡ các nhà văn Đứ
c).





Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

                                                      
Nhà văn Võ Thi Hảo

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

"THƠ VIỆT Ở ĐỨC" - TIẾNG LÒNG NƠI VIỄN XỨ



Bìa cuốn "Thơ Việt ở Đức", tập thơ đầu tiên của cộng đồng người Việt ở Đức được tuyển chọn rộng rãi do Vipen xuất bản


"THƠ VIỆT Ở ĐỨC" - TIẾNG LÒNG NƠI VIỄN XỨ


Đọc "Thơ Việt ở Đức",  ta hiểu được phần nào tình cảnh của từng tác giả nói riêng và cộng đồng người Việt nơi viễn xứ nói chung. Có thể nói, tập thơ là một bức tranh hiện thực của cuộc sống tha hương, được khắc họa bằng những gam màu đậm nhạt khác nhau. Đó là tiếng hát của những con tim cất lên từ nhiều cung bậc, là tiếng lòng khắc khoải trong những đêm thâu, là cái rét cắt da  trong sương giăng tuyết phủ, là nỗi nhớ cồn cào về quê hương cố quốc. Có nhiều bài khi đọc lên, ta cảm nhận tác giả đã vớt ngôn từ trong dòng suối nước mắt gửi vào thơ. Tất cả những điều nói trên, tôi xin được thể hiện trong bài thơ sau đây:

TI
NG LÒNG NƠI VIỄN XỨ
(
Cảm nhận khi đọc"Thơ Việt ở Đức")

Thơ Việt ở Đức đượm sắc màu

Muôn hoa đua nở dưới trời Âu

Từ trong tha thiết lời viễn xứ

Gửi gắm tâm hồn chia sẻ nhau

Theo từng  tâm cảnh mỗi bài thơ
Có dòng cảm xúc đọng khi mơ
Vớt  câu chữ trong dòng lệ chát
Dệt nên cánh võng nỗi mong chờ


Trắng màu tuyết phủ khát nắng xa

Nôn nao nỗi nhớ cảnh quê nhà
Ầu ơ! tiếng mẹ vòng tay ấm
Khắc khoải trong lòng đứa con xa

Mỗi người mỗi cảnh mỗi niềm riêng

Hiện lên sắc thái cả ba miền

Ta như cảm nhận làn Quan Họ

Dìu dặt mạn thuyền khúc giao duyên


Ta như cảm nhận câu hò Huế

Mơ màng núi Ngự ngắm sông Hương

Và như đang ngắm Kinh thành cổ

Khẽ cất tiếng lòng - ôi Huế Thương


Hòa trong làn gió câu vọng cổ

Từ những miệt vườn đất phương Nam

Ta như lướt sóng trên thuyền mộng

Thả hồn  sông nước Cửu Long giang


Tiếng lòng thao thiêt nơi viễn xứ

Như giàn hợp xướng quyện thanh âm

Từ dòng nhạc lý tim bừng lửa

Xin hãy nâng niu khúc bổng trầm!


Bùi Nguyệt

( Chemnitz- CHLB Đức)
-------------

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Từ củ sắn Thanh Ba đến những mảnh đời trước cổng thành Brandenburg Nghĩ về sự đa dạng và tính hiện thực trong tập TVOD


Bìa cuốn "Thơ Việt ở Đức", tập thơ đầu tiên của cộng đồng người Việt ở Đức được tuyển chọn rộng rãi do Vipen xuất bản  
Bìa cuốn "Thơ Việt ở Đức", tập thơ đầu tiên của cộng đồng người Việt ở Đức được tuyển chọn rộng rãi do Vipen xuất bản
Bìa cuốn "Thơ Việt ở Đức", tập thơ đầu tiên của cộng đồng người Việt ở Đức được tuyển chọn rộng rãi do Vipen xuất bản

Từ củ sắn Thanh Ba đến những mảnh đời trước cổng thành Brandenburg
             Nghĩ về sự đa dạng và tính hiện thực trong tập TVOD

Sau bài viết Cây thơ Việt giữa trời Âu, có bạn hỏi tôi: Anh ví tập TVOD như cây đời có đủ cành cao, cành thấp, cành hướng thẳng trời xanh, có phải đấy là ngụ ý phân cao thấp các bài thơ ? Cụm từ “ hướng thẳng trời xanh“ còn có ý nghĩa gì khác?

Bài viết này và cũng một phần lý giải câu hỏi trên, tôi mượn một nhận xét của nhà thơ Thế Dũng: Tập TVOD có đủ chiều dài và chiều sâu! Từ củ sắn Thanh Ba đến những mảnh đời vỡ vụn ngân nga trước cổng thành Brandenburg.
Nhận xét trên cũng như“ Cây đời“ mà tôi ví với tập thơ chính là nhận định về sự đa dạng và tính hiện thực trong nội dung cũng như nghệ thuật trong tập TVOD.

Nhà thơ vĩ đại người Đức Göthe có câu thơ nổi tiếng như là chân lý cuộc sống:
   Mọi lý thuyết chỉ là mầu xám
   Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi.

Cây đời là hiện sinh của cuộc sống. Cây đời trong thơ ca cũng chính là chủ nghĩa hiện thực được phản ánh trong đó dưới góc nhìn của cảm xúc. Chủ nghĩa hiện thực trong tập TVOD theo tôi đấy là đặc tính nổi bật mà ít tập thơ nào có được, kể cả so với thơ ở trong nước.

 Về cụm từ “ cành hướng thẳng trời xanh“ tượng trưng cho những bài thơ mang đậm hơi thở nóng hổi của thời cuộc, như ngọn cây cao chót vót luôn luôn đón nhận thứ ánh sáng tươi mới của mặt trời. Đương nhiên tôi cũng không có ý phân cao thấp các bài trong tập thơ. Cụm từ “cành cao, cành thấp“ cũng chỉ để nói về sự đa dạng trong đề tài cũng như sự phong phú về nội dung mà các tác giả trong tập TVOD đề cập tới.

Cây đời trong TVOD phá triển sum xuê cành lá chủ yếu ở cuối thập niên đầu thế kỷ hai mốt, dù trước đấy vào những năm 90 của thế kỷ trước có hàng trăm nghìn người Việt sang Đức làm việc. Tại sao lại thế? Tôi cho rằng có hai lý do chính: Một là do cuộc sống trong nước quá khó khăn, nên khi sang Đức chúng ta bị choáng ngợp trước nước Đức khá phồn thịnh, ta lao vào kiếm tiền, hay chỉ nghĩ đến hưởng thụ trong một môi trường sống tương đối tự do. Hai là trong cộng đồng người Việt khi ấy chưa có một sân chơi dành cho thơ ca. Trong tập TVOD chỉ duy nhất một bài thơ Giao thừa của Lê Lương Cẩn viết năm 1972, nói về nỗi nhớ nhà của anh sinh viên trong giờ phút chuyển giao của năm cũ và năm mới. Chỉ đến sau khi nước Đức thống nhất năm 1993 mới xuất hiện bài Tự Vấn của Thế Dũng, phản ánh đúng một phần cái khát khao hạnh phúc, muốn thoát ra ngoài sự trói buộc của luật lệ đối với lớp người sang hợp tác lao động:

   Lẽ nào không đẻ đái?
   Giao hợp chỉ để chơi
   Lẽ nào ?
   Ngừa thai cho tuyệt chủng
   Kiếp lưu vong u cuồng.
                     Tự vấn.

Đọc câu thơ này tôi lại nhớ cô người yêu của bạn tôi năm 1989 mang thai phải chạy trốn khắp nước Đức ( Đông Đức Cũ) để thoát sự truy lùng của cảnh sát. Cuối cùng cô vẫn bị bắt, bị trục xuất về nước.

Lý giải trên không có nghĩa những năm 90 không ai làm thơ. Có, nhưng chắc chắn không nhiều, mà có lẽ các tác giả viết xong chỉ để tự thỏa mãn rồi để thơ nằm yên nơi hốc tủ. Sau này, ngoài sự phát triển mạnh mẽ của Internet, ta phải ghi nhận sự đóng góp rất tích cực và hiệu quả của những tờ báo mạng điện tử những năm gần đây cho sự nở rộ của dòng TVOD, như Nguoiviet.de, Thoibao.de..vvv. Nó là sân chơi lành mạnh của thơ nói riêng, cũng như có ý nghĩa gắn kết và thúc đẩy sự phát triển đi lên của cộng đồng người Việt ở Đức. Ngoài ra còn có một yếu tố cần tính đến là nước Đức tự do ngôn luận. 

 Người ta thường nói, thơ là tiếng reo vui của hạnh phúc, là nhịp thở bùng thoát  từ những trăn trở, ray rứt, buồn phiền. Thơ còn là tiếng kêu ai oán, hay tiếng thét của con tim đang gỉ máu. Nói như Hàn Mạc Tử:“ Ta muốn hồn ta trào ra đầu ngọn bút“.

Tập TVOD không mang sắc thái mầu hồng, cũng đồng nghĩa với tiếng reo vui rất ít có trong tập thơ. Phần lớn các bài thơ phản ánh cuộc sống lao động vất vả, cực nhọc trên xứ tuyết cùng những trăn trở, băn khoăn tìm lối thoái trong cuộc đời và, những ray rứt, nhớ nhung bởi chia lìa, xa cách của kiếp sống tha hương. Đây là điều khác biệt chủ yếu so với thơ ở trong nước.

Sự khác biệt này cũng dễ lý giải bởi các tác giả đều là những người sống xa tổ quốc, những người trực tiếp lao động. Cầm bút không phải việc làm của kế sinh nhai đối với họ mà là nhu cầu tự thân được giãi bày, được giải tỏa từ dồn nén của cảm xúc trước thực tại cuộc sống mà họ là người trong cuộc. Thứ chất liệu để làm nên mỗi bài thơ họ không cần vay mượn hoặc nhìn qua một lăng kính nào khác, đã một phần tạo nên độ tin cậy mang tính hiện thực cùng sự đồng cảm  của bạn đọc đối với tập thơ. Nếu ta đem tái hiện cuộc sống lao động được đề cập tới trong tập thơ, trên một mặt phẳng thì ta sẽ thấy một công trường nhộn nhịp với đủ các nghành nghề mà người Việt đang mưu sinh trên đất Đức. Từ công việc nơi nhà máy trong, Tuy không dãi gió dầm mưa, của Hoàng Khoa Toán, tới công việc của chị y tá bên người bệnh trong Ca đêm  của Nguyễn Thị Quyết Thắng...www. Hay quanh năm lăn lộn ngoài trời với nghề bán buôn quần áo, rau quả dưới nắng, gió, tuyết, sương:
  
   Có những kẻ bán buôn quần áo
   Dựng bạt lều phơi phới gió sương
   Run run góc chợ đầu đường
   Chân in dấu tuyết tóc vương gió trời.
                         Hoàng Việt Hùng

Hay:
   Cha mẹ làm ngày tới nửa đêm
   Guồng quay cuộc sống cứ đảo điên
   Thời gian cho con sao quá hiếm
   Lỡ chuyện giờ thôi chỉ khóc phiền.
                         Lê hoài Phương

Thế mà khi Tết đến Xuân về, vẫn chẳng đủ tiền về thăm mẹ, thăm quê, đấy là nỗi ray rứt, buồn phiền trong lòng người xa xứ:

   Thôi thì tết ở lòng ta
   Xa quê cố gượng như là ở quê...
   Nhớ quê mà chẳng thể về
   Công cha nghĩa mẹ bao giờ trả xong?
                        Hoàng Việt Hùng

Thực ra, làm công việc trên thì ở đâu cũng vất vả, chứ chẳng riêng gì ở Đức. Cái khổ của kẻ tha hương còn ở trạng thái bất an „đi thì cũng dở, ở không xong“, của nhiều thân phận không tự quyết định được hướng đi cho cuộc đời mình:

   Dùng dằng mãi chuyện về hay ở
   Nên cuối cuộc đời vẫn ẩm ương
                                 Lê Hoài Phương

Cuộc tình buồn tẻ tay ba...là bài thơ mang tính hiện thực điển hình cho rất nhiều những cuộc tình người Việt ở Đức. Những đứa con sinh ra không phải vì tình yêu mà nằm trong toan tính vì cuộc sống mưu sinh. Lời tỏ tình cũng thành dối trá. Cuộc đời vì thế mà không thể bình an:

   Thế rồi ba gặp mẹ con
   Rồi lòng ba nói huyên thuyên yêu nàng
   Mẹ con nhẹ dạ bẽ bàng
   Mấy năm sau đó nhẹ nhàng sinh con...
   Con ơi ba ngán cảnh đời
   Có ba con vẫn là người mồ côi
   Sinh con chẳng tại số trời
   Nằm trong toan tính cuộc đời ba đây
                             Vũ Doãn Khoát
                 
Hiện thực cuộc sống qua TVOD không chỉ hiện lên như một bức tranh với nhiều đề tài, mà điều quan trong hơn ấy là những gam mầu đậm, nhạt, tối, sáng hiện lên rất trung thực. Nó là cái hồn của bức tranh. Cái hồn trong tập TVOD chính là nỗi lòng người xa xứ được thể hiện qua rất nhiều cung bậc, trạng thái của tình cảm.

Ngày xưa tôi nghe kể kẻ tha hương đêm nằm không ngủ vì nhớ tiếng giun, tiếng dế.  Sau này đi xa tôi thấy cảm giác ấy là có thật. Sự gắn bó gần gũi lâu ngày thì vật vô tri cũng trở nên có hồn. Tôi sống ở Đức đã lâu, dù đi đâu, tới Leipzig, Berlin... thì chỉ khi về tới Chemntz tôi mới có cảm giác mình trở về nhà. Những góc đường trong đêm dù thiếu ánh đèn vẫn cho tôi cảm giác yên bình, những bức tượng đá sau nhà nhìn tôi thân thiết như đón người thân trở về, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

   Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
   Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn

 Chúng ta nay sống ở Đức. Một phần tuổi trẻ nơi ta sinh ra và lớn lên trên quê hương đất Việt. Tình cảm thật lạ kỳ, càng xa thì càng lớn! Từ củ sắn Thanh Ba của Nguyễn Văn Bộ đến Con trót thành người xa xứ của Đinh Vũ Long, ta  đã đi từ hoài niệm đến trăn trở trong cõi lòng của kẻ tha hương khi rời xa đất Việt:

   Con trót thành người xa sứ
   Quay về đò đã sang sông
   Biết rằng vẫn còn bến đợi
   Biết rằng mẹ vẫn chờ mong
                       Đinh Vũ Long

Ta vẫn thường lấy vầng trăng trong thơ cổ để nói về sự chia cắt vợ chồng:
   Vầng trăng ai xẻ làm đôi
   Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường

Thì ở trong tập TVOD ta bắt gặp rất nhiều cảnh đời như thế. Phần lớn các tác giả trong tập thơ là những người đi hợp tác lao động cuối thế kỷ trước. Họ đều đã có gia đình, ra đi là chấp nhận chia ly con cái, vợ chồng. Cuộc sống đẩy đưa, có những vầng trăng chia nửa để rồi mãi mãi không tròn, cứ một mình lơ lửng, cô đơn giũa trời xa:
   Thu đến...
   Thu đi...
   Bao mùa nhớ
   Nào ai đếm được lá vàng rơi
   Phương ấy đêm nay trời có lạnh
   Có biết phương này trăng đơn côi.
                         Bùi Nguyệt.

Nữ sỹ Bùi nguyệt tâm sự: Thơ đã là một phần trong cuộc đời chị, mỗi khi buồn đau em lại vịn vào thơ để không gục ngã. Cuộc sống vất vả, một mình bươn trải trên xứ tuyết. Đêm về nhớ chồng, nhớ con, chỉ biết trải lòng mình lên trang giấy. Nước mắt rơi nhiều lắm, không còn là giọt, là dòng, em không biết dùng từ nào để đong lượng nước mắt đã rơi:
   Mẹ hòa nước mắt vào thơ
   Khẽ ầu ơ... thả vần mờ đêm sương.
                        Bùi Nguyệt

Không chỉ phản ánh cuộc sống mưu sinh cùng những tâm tư tình cảm vui buồn trong cộng đồng người Việt, TVOD còn đồng hành, ghi lại được thời khắc đổi thay lịch sử của nước Đức thống nhất, từ hạnh phúc tột đỉnh cùng những trạng thái vui, buồn trong đêm trừ tịch qua thơ Thế Dũng:
   Đêm trừ tịch chỉ có Trời - Đất hát?
   Đèn chín mầu, sóng nhạc vỗ năm cung
   Người ảo diệu- nghiêng ly và ngừng lệ
   Nghe như mây bay, nước chảy tới vô cùng!

   Phút giao thừa chẳng có mấy lo âu!
   Cả vũ trụ như một ngôi nhà ấm!
   Pháo khoe sắc- Rượu phô mầu say đắm...
   Những mảnh đời vỡ vụn cũng ngân nga!

   Đêm trừ tịch đầu tiên tôi được thấy
   Đông với Tây cởi mở nỗi lòng mình?
   Chân phiêu lãng chợt buồn trên xứ lạ!
   Dưới chân mình đâu phải đất khai sinh!
                                        Thế Dũng

Người Việt xa quê nhưng không hề xa tổ quốc! Hồn Tổ quốc đi vào từng giấc ngủ / Chập chờn bay lá cờ đỏ trên đầu*. Người Việt ở Đức luôn hướng về tổ quốc, dõi theo từng nhịp đập của trái tim đất Việt. Ta đã thấy hàng ngàn người Việt với cờ đỏ sao vàng, sục sôi xuống đường biểu tình chống sự lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc như ở Berlin, ở Erfurt...vvv. Thơ cũng không ngoại lệ, những vần thơ hừng hựng khí thế hào hùng chống quân bành trướng của các thi sỹ xuất hiện kịp thời trên các trang báo mạng,  góp phần cùng các chiến sỹ, đồng bào trong nước gìn giữ biển, đảo quê nhà.

   Hồn tổ quốc đi vào từng giấc ngủ
   Gió Hoàng Sa lay gọi sóng Trường Sa
   Những người lính năm xưa không về nữa
   Bão giông còn đến từ phía biển xa...

Hay như một lời nhắc nhủ, cảnh tỉnh với đất nước trước những bất cập trong xã hội, đặc biệt trước âm mưu thâm độc luôn luôn muốn quy phục, thôn tính nước ta của chủ nghĩa đại Hán:

   Mẹ Việt Nam – Không chỉ nhìn ra Biển
   Những nẻo rừng hồi, rừng quế Lạng Sơn
   Những cánh rừng đầu nguồn đã bị ngoạm
   Bị chiếm bằng những hợp đồng cạm bẫy 50 năm...

   Mẹ Việt Nam- Không chỉ nhìn ra biển
   Chỉ sợ láng giềng mắc mưu ly gián
   Sợ giặc thình lình đứng sững phía sau lưng.

   Mẹ Việt Nam – Không chỉ nhìn ra biển
   Ngẫm chín hướng mười phương để lập thế sơn hà!
                                      Thế Dũng.

Nếu nói nội dung phong phú đủ các tầng lớp trong tập TVOD thì đi liền với nó cũng là sự đa dạng trong sử dụng nghệ thuật sáng tạo đối với mỗi bài thơ. Ở đây ta bắt gặp từ thể thơ tự do, ngũ ngôn, đến thể thơ khắt khe về niêm luật như thất ngôn bát cú được nhiều tác giả sử dụng khá thuần thục. Thơ lục bát được mệnh danh là Quốc Thơ, loại thơ được truyền tụng và lưu giữ trong dân gian nhiều nhất, cũng được nhiều tác giả vận dụng cho những bài thơ thuộc loại tự sự, tâm tình. Ở thể loại này Lê Ngọc Kỳ có câu thơ tả cảnh rất hay:
   Gió vờn mây cuối trời cao
   Nắng Xuân nhả ngọc rơi vào nụ hoa

Để tôi chợt nhớ đến câu thơ của Ngô Văn Phú mà trước đây cứ tưởng câu ca dao truyền tụng trong dân gian từ thời nảo thời nào:

   Trên trời mây trắng như bông
   Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây
   Mấy cô má đỏ hây hây
   Đội bông như thể đội mây về làng.

Nếu có bài thơ nào trong tập TVOD chưa hay thì có thể ví như một bức tranh của người lần đầu tiên cầm bút vẽ, bố cục cũng như đường nét chưa thuần thục, nhưng chắc chắn một điều, chất liệu để làm nên bức vẽ ấy là thật, cảm xúc là thật không vay mượn, chỉ điều ấy thôi cũng làm nên độ tin cậy, sự trân trọng, yêu mến của bạn đọc với tập thơ.
Để kết thúc bài tham luận hôm nay, tôi mượn mấy câu thơ của Hoàng Khoa Toán, cũng là một trong các tác giả có mặt trong tập thơ để nói về nội dung cũng như tính hiện thực trong tập TVOD.

   Dù ngày mai có bao nhiêu bài thơ!
   Bao nhiêu tác giả - ngắn dài, hay dở
   Là tâm sự, sau nhiều năm trăn trở
   Khắc tạc vào hồn, của kẻ tha hương 

Chemnitz 27 / 6 / 2014