Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

ĐỖ HÀN - Bến xa - Bản tình ca xuyên lục địa



BẾN XA - BẢN TÌNH CA XUYÊN LỤC ĐỊA
 

Có thể nói – Bến xa là bản  “Tình ca xuyên lục địa.”. Nó là tiếng hát cất lên từ trái tim dào dạt yêu thương của người phụ nữ tha hương, trong cuộc mưu sinh nuôi con khôn lớn trưởng thành.
Ta hãy nghe lời day dứt
                        
                        Tóc xanh sương tuyết nhuộm rồi
                         Kết thành cánh võng ru hời bóng con”
                                                                  ( Viết cho con)
Khi cảm nhận bài thơ này,  nhà thơ Đinh Nam Khương đã viết:
“Hai câu thơ cuối cùng đó là sự xuất thần của ngòi bút , nó tỏa sáng và mang lại ý nghĩa cho toàn bài ,nâng nghệ thuật của bài thơ lên một tầng cao mới . Hình tượng mái tóc xanh của mẹ sau 25 năm xa cách và nhớ thương con vô hạn giờ đã trở thành một mái tóc bạc .Mái tóc bạc ấy đã bện thành một cánh võng êm ái để ru bóng con . Vì  các con còn cách mẹ một khoảng trời xa lắc .
"Lục bát là một thể thơ cũ kĩ đến cổ xưa nhưng dưới ngòi bút của Bùi Nguyệt đã trở nên mới mẻ và độc đáo một cách kì lạ . Tôi thực sự phải nghiêng mình trước hai câu thơ này của chị”. Quả là như vậy, sự liên tưởng và cách sử dụng các biện pháp Tu từ trong thơ Bùi Nguyệt khá bất ngờ cho người đọc:
Đôi ta nặng nghĩa sâu tình
Xế chiều mái tóc bình minh tâm hồn
                              (Sâu nặng)
  Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi bắt gặp cách thể hiện tuổi tác khá độc đáo và rất sáng tạo qua nghệ thuật hoán dụ và ẩn dụ “Vô tiền khoáng hậu” này. Và tuyệt vời thay, hai hình ảnh nằm trong  hai vế đối  tương phản,  trong một câu thơ lục bát quả thật tài tình! Những câu thơ “ Xuất thần” như thế rải rác trong cả tập thơ thể hiện sự thăng hoa của cây bút nữ vừa xuất hiện đối với bạn yêu thơ.
Nói  về tình yêu ở cái cái tuổi xế chiều, đứng bóng, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết
Gió từ Bãi Trước về Bãi Sau
Thủy triều tan hợp có sao đâu
Tình yêu đừng nói sau hay trước
 Yêu muộn còn hơn thuở ban đầu
Hai cách thể hiện của hai nhà thơ mà nội dung đúng là đồng dạng phối cảnh? Tôi so sánh như thế không phải xếp bằng các nhà thơ với nhau mà để chúng ta ghi nhận những câu thơ xuất thần của Bùi Nguyệt. Điều đó cũng nói lên rằng sự xuất thần trong thơ thì dù nhà thơ lớn hay những người mới cầm bút viết cũng rất cần cho những trang thơ của mình.
Có được những câu thơ như thế là  nhờ ở sự rung động thật sự của con tim. Đúng như Đinh Nam Khương đã nhận xét về thơ Bùi Nguyệt:  “ Vì những bài thơ ấy không phải viết ra bằng văn chương chữ nghĩa hào nhoáng, không phải viết ra bằng sự lạnh lùng của trí thông minh mà nó được viết ra từ trái tim ấm nóng , nhớ thương khắc khoải . Được viết ra trong sự trào dâng cảm xúc từ tấm lòng nhân ái của người viết . Nó thường được thể hiện bằng ngôn ngữ mộc mạc và chân thành nhất ,máu thịt nhất ,không hề pha trộn một ít giả dối hoặc vỏ bọc của những ngôn từ sáo rỗng . Đó là những bài thơ thương thật ! Nhớ mong thật , sung Sướng và khổ đau thật... Những bài thơ như thế ,ngay từ trong cốt lõi của nó đã chứa đựng sự hấp dẫn và thuyết phục , làm cho người đọc phải ứa lệ ! ”
Và thật sự- chính tôi cũng đã phải ứa lệ  khi đọc những bài viết về mẹ, về con. Mặc dù số lượng những bài ấy không nhiều. Còn đa phần là những bài viết về tình thơ, tình bạn, tình yêu nam nữ. Đọc những bài về tình yêu nam nữ, khiến trai tim ta cũng bốc lửa, cũng ngân nga ...
    Thơ Bùi Nguyệt đã định hình phong cách khá rõ . Tuy hai tập thơ  “Hồn núi” và “Bến xa” có nét khác nhau về mặt gam màu sáng, tối ở hai thái cực vui, buồn .So với Hồn núi thì “Bến xa” vui vẻ hơn, tươi tắn hơn nên gam màu cũng bừng sáng lên  dưới ánh lửa của tình yêu:
Nhấp ly rượu cho hồng ấm lại
Vị men say xao xuyến dậy tương lai
                             Những nụ hôn  tràn đầy niềm hạnh phúc
Cho cuộc đời trẻ mãi ánh ban mai
                                    ( Hơi ấm valentine)
"Bến xa" -Một bản tình ca cho chúng ta cảm nhận ở nhiều góc độ, ở nhiều cung bậc, khi thì dào dạt như só
 Bạc đầu ngọn sóng dâng trào
 Đại dương sâu thẳm cuốn vào bờ xa
                                          (Mượn lời của gió)

khi lại vi vu tiềng thông reo, líu lo tiếng chim hót
                                     Anh đào khoe sắc rực hồng
Líu lo chim hót, cành thông đệm đàn
                                                         ( Tình thơ)
Bùi Nguyệt khá thành công trong những bài thơ,những câu thơ đa đoan, đa cảm dưới những ngôn từ binh dị như thế.Nét nổi bật trong "Bến xa" là tính đa tình. Một chữ TÌNH rộng lớn nằm trong trái tim nồng ấm của tác giả. "Bến xa" đang mở ra chân trời tươi sáng trong thơ Bùi Nguyệt
                                                               Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
                                                                                      ĐỖ HÀN
                                                                          (HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM)


                                                           

Hoàng Tấn Đạt - VIẾT CHO MẸ

                                                   Ảnh Thanh Nguyên - CHLB Đức

Tết này con lại chưa về
Thế là bốn tết xa quê vắng nhà!

Giờ này đào đã trổ hoa
Đỏ như mắt của mẹ già mong con
Mẹ ơi! Tuổi hạc hao mòn
Tắt đèn tối lửa mà con vắng nhà!

Mẹ thương con sớm bôn ba
Cánh chim bạt gió trời xa chưa về
Con thương mẹ ở ngoài quê
Mùa đông rét cắt mùa hè nắng nung!
Những khi đau gối mỏi lưng
Bữa ăn bát vực bát lưng nhọc nhằn
Mẹ như trăng đã cuối tuần
Như hoàng hôn đã tới gần đỉnh non
Như tằm rút ruột cho con
Biết bao gian khó mỏi mòn mẹ ơi

Né tơ thì đã đầy rồi
Chỉ thương mẹ suốt một đời long đong

                                               Hoàng Tấn Đạt
                                               ( Vũng Tàu - Việt Nam)
CẢM NHẬN BÀI THƠ

Cảm ơn Hoàng Tấn Đạt Tác giả bài thơ Viết cho Mẹ . Đã lâu rồi lại được đọc bài thơ viết về Mẹ rất hay, nói hộ chúng tôi nỗi niềm của những người con xa xứ nhất là trong thời khắc thiêng liêng chờ đón Giao thừa Xuân Nhâm thìn 2012 sắp tơi gần. Mong Tác giả gửi đăng tiếp trên nhiều trang Báo Công đồng.Chúc Hoàng tấn Đat cùng Gia đình đón một Nâm mới Vui khỏe , Hanh phúc và thành đạt. Vũng Tầu rất đẹp với những Bãi Trước, Bãi Sau, và càng thơ mộng hơn khi ở đó có một Nhà thơ .
                                                                                           Việt Hoa


Thơ lục bát là khó. Cái khó nằm ở chỗ dân ta ai cũng thuộc đến nhàu thể lục bát, ngon ngữ việt lại dễ gieo vần nên làm thơ lục cho ra lục khó, vì sự dễ dẫn tới chủ quan mà nhạt, mà vụng như nặn tượng bằng bột chứ không tạc đá mà làm nên tượng. Bài thơ này của Hoàng Tấn Đạt khá chỉnh. Lại lời lẽ hai vế mẹ và con đều chân thật dung dị về ngôn từ nên đúng là lời mẹ con. Hơn nữa không hiểu ông Đạt có con cái hay người thân xa xứ không mà nói trúng tâm ý của kẻ xa nhà thế. Câu cuối Né tơ thì đã đầy rồi- Một hình ảnh rất riêng của vùng miền song là người Việt ai cũng hiểu là cái biểu tượng vừa dễ hiểu vừa xa xót của tấm lòng con với Mẹ....Người Mẹ Việt Nam!
                                                                                   Chung Tử Lê
Theo nguồn NguoiViet.de

Vân Hạc - Đại Lải vui buồn cùng thi nhân



Đại Lải vui buồn cùng thi nhân - Trần Vân Hạc.

Thứ hai - 28/01/2013 16:45



Tập thơ: “Gió làng ta xanh ngát” – NXB Hội nhà văn, 2012 của nhà thơ Trần Nhương gồm nhiều mảng đề tài. Người đọc day dứt, xót xa cùng tác giả với những chiêm nghiệm, cảm thông về phận người, về nhân tình thế thái. Có lẽ khi nhà thơ đã trải qua lửa đạn chiến tranh, đã qua cái tuổi: “Thất thập cổ lai hi”, trải bao bĩ cực nên càng thấm hơn cái đã có cùng tương lai của con người sống trên mảnh đất yêu thương và gian khổ. Ngay ở chùm thơ viết về Đại Lải, ...
Đại Lải vui buồn cùng thi nhân - Trần Vân Hạc.


_____

ĐẠI LẢI VUI BUỒN CÙNG THI NHÂN
Trần Vân Hạc

    Tập thơ: “Gió làng ta xanh ngát” – NXB Hội nhà văn, 2012 của nhà thơ Trần Nhương gồm nhiều mảng đề tài. Người đọc day dứt, xót xa cùng tác giả với những chiêm nghiệm, cảm thông về phận người, về nhân tình thế thái. Có lẽ khi nhà thơ đã trải qua lửa đạn chiến tranh, đã qua cái tuổi: “Thất thập cổ lai hi”, trải bao bĩ cực nên càng thấm hơn cái đã có cùng tương lai của con người sống trên mảnh đất yêu thương và gian khổ. Ngay ở chùm thơ viết về Đại Lải, những tưởng cảnh đẹp sơn thủy hữu tình nơi đây sẽ làm tác giả nguôi ngoai đi phần nào những nỗi buồn nhân thế. Nhưng không, đằng sau vẻ thơ mộng kia lại là nỗi buồn sâu lắng của một con người biết trân trọng, giữ gìn cái đẹp và luôn mong một ngày mai tươi sáng hơn.
    Tập thơ có năm bài viết về Đại Lải, đó là: “Mùa thu lên Đại lải” – trang 5; “Mùa thu này Đại lải một mình anh” – trang 59; “Mưa Đại lải” – trang 63; “Đêm Đại lải” – trang 86; “Khúc yêu” – trang 104. Mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, mang một nỗi niềm, một tiếng lòng của tác giả. Đại Lải chỉ là cái cớ để nhà thơ gửi gắm nỗi lòng với con người và quê hương đất nước.
    Bài “Mùa thu lên Đại lải” tự nhiên như hơi thở, tự nhiên trong lập tứ lập ngôn cùng những thủ pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ cứ như hòa vào nhau để nâng tầm của bài thơ lên sau mỗi khổ:
          “Mùa thu lên Đại lải
          Nắng sang cầu Thăng Long
          Gặp Xuân Hòa em gái
          Nắng tròn vào lưng ong”
    Ý thơ trong trẻo quá. Đất, trời, con người như những người bạn tri âm đã đợi từ lâu. Tác giả rất tài hoa sau mỗi đoạn miêu tả lại “hạ” một câu đầy chất suy tư mà không gò ép:
          “Chợ chiều chừng sắp vãn
          Mẹt ổi bán chưa vơi”
    Có một chút xót xa cho phận người ở vùng đất thơ mộng và nghèo khó này chăng. Nhưng cái xa xót ấy không khỏa lấp được cảm xúc của tác giả trước một vùng đất, một vùng người đầy tình nghĩa: “Quả mùa thu viên mãn” kia không nhắc nhở người đọc đã sắp sang đông mà “Thơm tho như một người”, một người trong nhiều người.
    Cũng vẫn trong mạch cảm xúc ấy, nhà thơ để tình mình theo bước chân sơn nữ:
          “Gái Sán Dìu xinh thế
          Mắt nhìn ríu cả chân
          Anh thành người được thể
          Gom mùa thu vào xuân”
    Hình ảnh “nhìn ríu cả chân” thật là độc đáo, đấy không phải là cái nhìn đơn thuần, mà còn gói cả cái tình tinh quái và thật bất ngờ khi nhà thơ mượn cái bối rối ấy để: “Gom thu vào mùa xuân” một cách điệu nghệ. Thì ra xuân lòng đâu có mùa. Nhà thơ như gặp quê hương yêu dấu của mình, Đại Lải trở nên thân thương quá đỗi trong hồn người
          “Anh đi trong hương ổi
          Ngỡ mình đang vườn nhà”
    Để rồi khi “em” rẽ lối, tác giả thảng thốt: “Anh trời trồng ngã ba”.
    Giữa trời chiều Đại Lải thơ mộng đầy âm thanh, sắc mầu và chan chứa tình ấy, nhà thơ như kẻ mộng du, kể cả khi “nắng đã về bên ngoại” vẫn: “Tương tư tràn suốt thu”. Bài thơ trong trẻo, ăm ắp tình người, dẫu có chút se buồn man mác.
    Ở bài “Mùa thu này Đại lải một mình anh” lại sâu lắng một nỗi buồn cô đơn đến lạnh lòng. Thời gian trôi nhanh quá, nếu con người không nắm bắt được cái đẹp của đất trời và con người mà tận hưởng thì tất cả sẽ trôi qua trong tiếc nuối: “Em vừa đấy đã thành hôm trước”, dẫu:
          “Nắng vẫn nắng như cầm thấy được
          Đường rơm phơi thơm gió dậy thì”
    “Gió dậy thì” ấy phải chăng như một lời nhắc nhủ đầy tính nhân bản. Đất trời vẫn thế, theo qui luật của muôn đời, chỉ có lòng người... Nhà thơ cô đơn giữa không gian và thời gian khi:
          “Người đông thế mà toàn xa lạ
          Lối ven hồ sỏi đợi bước chân quen”
    Vâng khi cuộc sống còn nhiều kẻ thờ ơ với phận người, thơ ơ với tương lai của quê hương, “xa lạ” với nhân dân thì những nhà thơ chân chính còn xót xa đau cùng nhân thế và phải chăng hình ảnh  “Lối ven hồ sỏi đợi bước chân quen” kia như tấm lòng của bao người đợi một tiếng lòng chân chính, đợi một ngày mới tươi sáng hơn.
    Bài “Ngày mưa Đại lải”, ngay từ dòng thơ đầu tiên, nhà thơ đã khéo léo xử dụng những thanh bằng và thanh không để diễn tả nỗi buồn sâu lắng:
          “Ngày mưa Đại lải buồn ngang trưa”
    Hai hình ảnh đối lập giữa một đôi trai gái yêu nhau nhắn tin cho nhau và một “lão già đầu bạc”, “uống đến tàn đêm chẳng ngớt sầu” thật đắc dụng. Dẫu người đọc có thoáng mỉm cười trước sự hóm hỉnh của tác giả khi đọc những dòng tin nhắn không dấu làm cho người đọc có thể phát triển suy nghĩ theo hướng khác đi nữa thì rồi lại lặng buồn xót xa cùng tác giả.
    Bài: “Đêm Đại lải” lại mở ra một không gian thật độc đáo:
          “Đêm nay Đại Lải một mình
          Hồ im tịnh sóng cây thinh lặng cành
          Chỉ còn trăng ngan ngát xanh
          Ngậm sương cây cỏ bỗng thành thủy tinh
          Vườn khuya cây cỏ một mình
          Tiếng kêu gọi bạn xô vành trăng nghiêng”
    Hình ảnh: “Ngậm sương cây cỏ bỗng thành thủy tinh” thật đắc địa, thi sĩ đang đắm mình trong vẻ đẹp lung linh huyền diệu của thiên nhiên về đêm mà cảm nhận mà suy tư để xuất thần có những câu thơ tài hoa. Cái giá lạnh của cỏ cây thấm vào hồn người hay cái lạnh của hồn người thấm cả vào cây cỏ?
    Bài “khúc yêu” có cấu trúc lạ, đây là bài thơ văn xuôi khá hay. Xuyên suốt bài thơ là tình yêu của nhà thơ với Đại Lải, niềm hạnh phúc khi: “Hồ dâng nước, nước tràn lên bát ngát, biết làm đầy cho những khát khao”. Đây là khao khát không phải chỉ của riêng nhà thơ, cho và nhận, dâng hiến hết mình để “làm đầy cho những khát khao” thì còn gì hơn thế. Trước mênh mông của trời mây non nước, nhà thơ không giấu lòng mình: “Không thể nói điều gi khác được, anh yêu em như định mệnh, như sắp đặt thiên duyên”. Vâng tình yêu chân chính vốn như thế đấy, nó bất chấp mọi nghiệt ngã của số phận, vượt lên tất cả, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời. Nhà thơ yêu và được yêu, câu thơ chứa lửa ở bên trong làm người đọc say men tình cùng tác giả: “Anh rạo rực và em rạo rực, đốt chiều thu Đại lải cuồng si”. Nhà thơ lặng đi trong niềm hạnh phúc ngọt ngào: “Không thể nói gì, anh nhận lấy mùa xuân từng hơi thở” và không thể không nói lời tri ân với cuộc đời: “Anh cảm ơn người đã cho anh tất cả, để anh yêu như tuổi đôi mươi” đó là một ngày cuối thu chín mọng những dấu yêu không thể cầm lòng. Dẫu nhà thơ hiểu rất rõ thực tại với bao “chớp bể mưa nguồn”, những “vui buồn kiếp người bản thể” dẫu biết rằng “em đang xuân mà anh đã sang thu”… nhưng tình yêu lớn dành cho Đại lải, cho “em” mãi tràn đầy: “Anh chỉ biết yêu em đến khi không thể, nhưng suốt đời anh một nửa là em”.
    Mùa thu được tác giả xử dụng như một thủ pháp nghệ thuật chuyển tải dụng ý của tác giả, vương chút se buồn, thấp thoáng phận người hữu hạn trong dòng đời bất tận, làm cho bài thơ ý tại ngôn ngoại và vươn lên tầm phổ quát.
    Năm bài thơ, mỗi bài một cung bậc cảm xúc như  rỏ xuống hồn người sự cảm thông, chia sẻ với những phận người và cất lên ngang trời một khát khao khát sống, khát yêu và hạnh phúc.
  Theo nguon Vandanviet.net                                                                                                                                                                                                1.2013
                                                                                                                                       Trần Vân Hạc

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Ông Tổng Cóc và mối tình với nữ sỹ Hồ Xuân Hương



Chuyện chưa biết về ông Tổng Cóc và mối tình với nữ sĩ Hồ Xuân Hương


 Ông Tổng Cóc là ai?
Ông Tổng Cóc có tên thường gọi là Kình, quê ở làng Gáp, xã Tứ Xã (Lâm Thao, Phú Thọ). Khi đi lính lên chức Đội, gọi là Đội Kình. Khi làm Phó tổng được gọi là Tổng Kình. Tên chữ của Tổng Kình là Nguyễn Công Hòa. Cóc là tên gọi lúc còn bé. Gọi tên xấu xí thế cho tà ma bớt quấy. Sau này Hồ Xuân Hương có bài thơ Khóc Tổng Cóc nên dân làng mới gọi ông là Tổng Cóc. Tổng Cóc là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn Quang Thành.
Ông Nguyễn Quang Thành nổi tiếng thần đồng, nhưng nhà nghèo không được đi học. Ông Bò Đen ở làng Kinh Kệ “giàu nứt đố đổ vách” học nhiều, không đỗ đạt, nhưng vốn trọng người tài năng, đã đến ngỏ ý nhận Thành làm con nuôi đón về nuôi ăn học. Mới chín mười tuổi đầu, Nguyễn Quang Thành đã tỏ ra khí chất của bậc hiền nhân quân tử, chối từ với lý do phải ở nhà phụng dưỡng cha mẹ. Cậu bé chỉ hỏi mượn sách của ông Bò Đen để về tự học. Tương truyền mỗi lần mượn cuốn sách của ông Bò Đen, trên đường vừa đi vừa đọc, chưa đến nhà đã thuộc làu làu phải quay lại đổi sách khác. Trong cuốn Lịch Chiều tạp kỷ có ghi rõ: “Ông Nguyễn Quang Thành có tiếng là thần đồng, 24 tuổi thi đỗ tiến sỹ, xuất thân năm Canh Thân, Lê chính Hòa (1680). Ông làm quan trong triều giữ chức “Thiểm đô ngự xử”. Nay còn bia số 80 ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Là cháu chắt bậc danh gia, Tổng Cóc đã từng theo cửa Khổng sân Trình và lều chõng đi dự thi Hương. Tương truyền Tổng Cóc kết thân với Tú Điếc làng Xuân Lũng và Nho Trâm người làng Kinh Kệ. Ba người quen biết Hồ Xuân Hương trong dịp họ đi thi Hương. Nhờ sự mối manh của họ, mà cụ Đồ Xứ người Nghệ An (đỗ đầu xứ nên khi dạy học họi là Đồ Xứ) đã dẫn con gái Hồ Xuân Hương về làng Sơn Dương cạnh làng Gáp để dạy học.
Tổng Cóc và bạn hữu thường xuyên đến thăm và ngâm vịnh thơ phú với cha con Hồ Xuân Hương. Giai thoại còn để lại nhiều chuyện cụ Đồ Xứ khen tài thơ văn đối đáp của Tổng Kình. Tiếng tăm Tổng Kình đã nổi tiếng khắp vùng từ hồi còn làm lý trưởng. Đó là chuyện Lý Kình đi viếng đám ma mẹ tên Đội Bính ở làng Tứ Mỹ. Đội Bính vốn hống hách, khét tiếng, không thèm đáp lễ lại người vào viếng trước linh cữu mẹ mình. Biết chuyện này, Lý Kình cùng gia nhân tên là anh Ré đến ngay đám ma nhà Đội Bính. Lý Kình thắp hương vái xong đứng ì ở chiếu không chịu ra. Mọi người đều ngơ ngác kinh hãi. Lúc ấy anh Ré đứng bên ngoài nói đánh tiếng: “Ông Lý nhà tôi còn phải chờ quan đội đáp lễ theo đúng cổ lệ mới ra được”. Đội Bính hống hác phải vái tạ anh Lý làng Gác đã ầm chuyện cả một vùng. Lại có chuyện Tú Đanh ghen với Tổng Cóc từ hội Đền Hùng năm trước. Vì không lôi được Hồ Xuân Hương giãn xa Tổng Cóc, nên Tú Đanh đánh tiếng sẽ về làng Gác đánh chết Tổng Cóc. Biết tin này Tổng Cóc cùng anh Ré lên làng Hà Thạch là quê quán Tú Đanh.
Cô chủ quán đầu làng Hà Thạch là nhân tình của Tú Đanh. Nhà cô này có sập gụ trải chiếu miến, cấm người khác ngồi, ngoài Tú Đanh. Tú Đanh đánh lời đe dọa Tổng Cóc có tài thì dẫn xác tới nhà hắn. Thầy trò Tổng Cóc bèn tới nhà, bảo Tú Đanh cho xin lửa hút thuốc. Tú Đanh sai người mang lên hòn than đang cháy đỏ. Hắn ngồi vén cao quần để than lên đùi thổi lửa châm đóm. Mùi thịt cháy tỏa ra vẫn không dọa được Tổng Cóc. Lợi dụng lúc Tú Đanh sơ ý, Tổng Cóc đã phi con dạo nhọn găm trên cái nóc. Khi Tú Đanh thổi lửa lên đùi mình, Tổng Cóc sai anh Ré lấy con dao chẻ đóm. Anh Ré vỗ đùi bạch một tiếng, nhảy phốc lên mái nhà rút con dao nhọn cầm lăm lăm, đứng thế tấn để dọa chủ nhà. Tú Đanh biết không thể địch lại thầy trò nhà Tổng Cóc bèn xuống giọng mời Tổng Cóc dùng trà thuốc.
Tổng Cóc còn là người giàu có, hào phóng quảng gia, nên mới lọt được vào “mắt xanh” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương mặc dù ông ta đã có vợ con
Và mối tình với nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Làng Sơn Dương và làng Gáp chỉ cách nhau vài trăm mét. Tuy thế làng Gáp lại thuộc tổng Vĩnh Lạc, Sơn Dương thuộc tổng Dụng Hiền. Chức phó tổng của Tổng Cóc không có quyền thế gì ở làng Sơn Dương và càng không áp đặt được cụ đồ Xứ, một nhà nho vốn được thời đại tôn trọng, phải bán con gái cho mình. Hơn nữa tài danh như Hồ Xuân Hương dễ gì chịu sống làm lẽ Tổng Cóc. Giáo sư Lê Chí Viễn đã nhiều lần về Sơn Dương làng Gáp. Về mối tình Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc ông viết: “... Tổng Cóc không phải là một anh trọc phú mà là một nho sỹ có phen lều chõng như ai và trong sự gặp gỡ Hồ Xuân Hương có chuyện chữ nghĩa, chứ chẳng phải do đồng tiền...”.
Tổng Cóc cưới Hồ Xuân Hương về làm vợ kế, đương nhiên bị vợ cả và con cái bất bình, nhưng vì “trai làm nên lấy năm bảy vợ”, nên họ phải ngậm đắng nuốt cay. Nhà Tổng Cóc giàu có, có khu ao hồ rộng liền với ao chạ trước cửa đình Chân. Khi cưới Xuân Hương về, ông làm chủ nhà thủy tạ ra hồ nước cho Hồ Xuân Hương dạy học và coi hồ cá cho có việc và để dân làng bớt dị nghị, ông thừa của chơi ngông lấy vợ lẽ về chỉ để ngắm nhìn, vì Hồ Xuân Hương đâu có biết việc đồng áng. Nhà thủy tạ ấy dân làng vẫn gọi là cái chòi. Hồ cá rộng chạy dài từ đình Chân ra gần Bờ Đỗi – một con đập dân làng đắp thêm để đủ hai đường đón hai vị tân khoa vinh quy bái tổ là hai cha con nhà họ Chử cùng đỗ Cống một khoa thi. Do họ đi đò từ Trịnh Xã về, không đi bằng đường bộ, nên con đập có tên là Bờ Đỗi. Thủy tạ là nơi họ thường cùng bạn văn chương ngồi ngắm cảnh, ngâm vịnh. Có khách, bà Hồ Xuân Hương lại sai người đi đánh cá dưới hồ lên đãi bạn. Cá mè dù to hay nhỏ, bà Hồ Xuân Hương chỉ ăn khúc giữa không bao giờ ăn đầu và đuôi. Chuyện này rồi lan ra khắp làng, khắp vùng để biêu riếu bà là người hoang phí.
Dân làng Gáp cách đây vài chục năm vẫn lấy sự khỏe mạnh, lưng ong, đùi dế, da ngăm đen làm tiêu chí cho cái đẹp của phụ nữ. Quanh năm suốt tháng, đàn bà con gái mặc quần đùi, chỉ dịp cỗ bàn hội hè mới mặc váy. Họ thường mặc quần đùi gánh cua nhảy tàu hỏa về bán ở chợ Bắc Qua, Hà Nội. Ai hay vận quần đùi chân lấm được coi là người chịu khó nết na. Ai trắng trẻo xinh đẹp bị coi là người buông tuồng, lêu lổng. Sống trong môi trường ấy, rõ ràng Hồ Xuân Hương sẽ bị tẩy chay cô độc. Những giai thoại của Hồ Xuân Hương ở tứ xã chỉ toàn nói xấu bà. Người ta không hề tự hào về “bà chúa thơ Nôm” ở quê mình. Sống trong cô đơn, bà chỉ lấy thơ để giễu cợt người đời. Dân làng ghét bà nhất là người vợ cả già và người thân của bà ta. Họ đồn thổi bà Xuân Hương là ma mãnh không phải người thường. Một lão Tổng Cóc còn lấy tàu lá chuối tươi lành lặn đắp lên người Hồ Xuân Hương khi bà ngủ. Nếu là người thường ngủ say không biết gì sẽ đè nát tàu lá. Còn nếu là ma thì sẽ biết bỏ tàu lá ra. Quả nhiên sáng ra Tổng Cóc thấy tàu lá còn nguyên được vứt ra khỏi giường. Ông càng hoài nghi Hồ Xuân Hương. Không khuyên nhủ được vợ kế sống hòa nhập với cộng đồng, Tổng Cóc bực mình. Một lần vợ chồng có va chạm, Tổng Cóc giận dỗi viết thư trách móc để dưới gối rồi bỏ đi xa một thời gian. Khi Tổng Cóc về thì Hồ Xuân Hương đã bỏ đi. Mãi lâu sau Tổng Cóc mới dò la biết Hồ Xuân Hương đang sống trong phủ Vĩnh Tường. Tính đếm ngày tháng, Tổng Cóc biết Hồ Xuân Hương đã sinh đẻ. Ông đến phủ Vĩnh Tường chỉ dám lân la ngoài phố, chờ con sen trong phủ ra hỏi mới biết được con gái Hồ Xuân Hương đã chết khi sinh ra. Tổng Cóc đành tay không ra về. Sau đó ông nhận được thư của Hồ Xuân Hương bằng bài thơ Khóc Tổng Cóc. Đó là bài thơ khóc cho mối tình đã chết, chứ không phải thơ khóc người chết. Dù trong đó hàm chứa sự mỉa mai giễu cợt cả dòng giống nhà Tổng Cóc, nhưng vẫn vương vấn chút tình, khác với khóc ông phủ Vĩnh Tường là khóc thật, nhưng khóc vì ơn nghĩa nhiều hơn.
Thời gian sống chung với Hồ Xuân Hương, Tổng Cóc đã bảo bà viết bài văn dài vào bức vách nhưng bằng ván mỏng vào ngôi nhà cổ năm gian. Qua nhiều lần ngập lụt, lau chùi và quá nhiều nhà khoa học bôi chất hiện màu vào rồi phải chùi sạch, làm cho chữ mờ, chữ mất không thể đọc mạch lạc chữ nghĩa của bài văn. Ngôi nhà này khi vong gia bại sản, Tổng Cóc phải bán sang làng Sơn Dương. Hiện ông Kiều Phú ở thôn Đại đình xã Sơn Dương làm chủ ngôi nhà này. Tuy qua mấy trăm năm nhưng ngôi nhà cũ vẫn chắc chắn. Mẹ ông Kiều Phú hơn trăm tuổi là người nhà quê mộc mạc vẫn nhớ lời bố mẹ chồng kể về bà Hồ Xuân Hương và gốc tích ngôi nhà này.
Nhà ông Tổng Cóc sa sút tới mức phải bán cả bàn thờ cho nhà họ Bùi ở trong làng. Hiện nay anh Bùi Thắng cháu chắt nhà họ Bùi còn giữ được hai chiếc bình gỗ mít sơn then mà ngày xưa, theo dân làng kể lại, ông Tổng Cóc sai vợ viết mấy câu thơ rồi phủ ngoài bằng sơn then. Mỗi bình được viết bằng hai dòng chữ Hán như sau: “Thảo lai băng ngọc kính / Xuân tận hóa công hương”, (độc bằng đan quế thượng/ Hỏa phóng bích hoa hương). Cụ Dương Văn Thâm, 90 tuổi, hội viên hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhà ở cạnh nhà anh Thắng tạm dịch như sau: “Nói đến tấm gương bằng ngọc/Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân”, “Chi bằng lúc ta vin cành quế đỏ/ Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm”. Hiểu theo nghĩa đen là: “Tấm gương trong trắng ví với người con gái trong trắng, nhưng khi hết xuân thì thợ trời cũng chịu. Chỉ biết dựa vào phúc đức, con cháu khi ấy hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi”.
Cách đây không lâu, con cháu ông Tổng Cóc đến xin “chuộc” lại đôi bình gỗ này nhưng anh Bùi Thắng không cho vì biết rõ sự vô giá của đôi bình vì có liên quan đến “Bà chúa thơ Nôm” của cả nước.

Nguồn: Văn nghệ Công An số 6 – tháng 6/2004)
BLOC: Hoàng Xuân Họa

TÌNH MẸ

TÌNH MẸ
 
Mẹ ơi! Nhớ mẹ mỗi chiều
Băn khoăn trăn trở nhiều điều thương con
Mẹ là cả dải nước non
Đi xa muôn dặm cho con lối về
 
Mẹ là sông núi con đê
Cho con nguồn chảy tràn trề nước trong
Mẹ là ngọn lửa sưởi lòng
Đêm đông giá lạnh con mong ấm người
 
Mẹ là người bạn đường đời
Chia cay sẻ ngọt của người tha hương
Tình mẹ ôm cả đại dương
Ngập tràn sắc nắng quê hương đón chờ...

Bùi Nguyệt, Chemnitz

LỜI  BÌNH CỦA HOÀNG TẤN ĐẠT


 Mẹ là đề tài muôn thuở của thơ ca. Tôi đã nghe nhiều bài hát, đã đọc nhiều câu thơ nói về mẹ và đều thấy thương những bà mẹ Việt Nam:  Anh hùng- Bất khuất - Trung hậu -  Đảm đang, đúng như tám chữ vàng Bác Hồ đã tặng. Nhưng khi đọc "TÌNH MẸ" của Bùi Nguyệt tôi lại thấy thương người con viết bài thơ hơn người mẹ viết ở trong thơ: Mẹ ơi! Nhớ mẹ mỗi chiều - Băn khoăn trăn trở nhiều điều thương con. Đó là lời gọi mẹ, giãi bày với mẹ nỗi nhớ, niềm thương của người con tha hương khi chiều buông, nắng tắt. Vì thời điểm này, người con mới có thời gian được thảnh thơi, nghỉ ngơi sau ngày lao động. Gia đình sum họp trong bữa cơm chiều. Đây cũng là thời điểm gà sắp lên chuồng, chim đang về tổ và cả  màu hoàng hôn kia cũng gợi nhớ khêu buồn đối với những người xa quê hương xứ sở. Đến đây tôi lại nhớ câu ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau - Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều! Ôi! Cái niềm thương nỗi nhớ của những người viễn xứ còn bát ngát, mênh mông, bao trùm cả non sông, đất nước: Mẹ là cả dải nước non - Đi xa muôn dặm cho con lối về. Nỗi nhớ mẹ của tác giả gắn liền với nỗi nhớ Tổ quốc mang hình chữ S. Thiết nghĩ, cụm từ "Dải nước non" rất chuẩn với dáng hình đất nước Việt Nam. Và phải chăng? Dáng hình ấy luôn hiện hữu trong đáy lòng tác giả? Hình ảnh mẹ gắn chặt với hình dáng non sông. Tầm khái quát này vừa có chiều sâu về tư tưởng vừa có bề rộng về tình cảm. Từ mạch cảm xúc ấy, nhà thơ đã cụ thể hóa ý trừu tượng - Tình mẹ, lòng con bằng nghệ thuật điệp ngữ và liên hiệp tỉ dụ. Nó có tác dụng khắc sâu tình cảm mẹ con, gây ấn tượng cho người đọc. Mẹ là nước non - Cho con lối về.


               Mẹ là sông núi, con đê - Cho con nguồn chảy.
                Mẹ là ngọn lửa - sưởi lòng con khi giá lạnh đêm đông.
                Mẹ là bạn đường đời để chia cay sẻ ngọt.
                Mẹ là đại dương để ngập tràn sắc nắng quê hương.

Rõ ràng, đối với con thì mẹ là tất cả. Mọi cảnh sắc quê hương đều vương vấn bóng mẹ. Cái thú vị là sự liên tưởng rất logic trong một hệ thống hình ảnh vừa kỳ vĩ vừa giản dị. Kỳ vĩ là sông núi, đại dương. Giản dị là bạn đường, ngọn lửa. Mẹ là thế đó rất mênh mông và vô cùng ấm áp, chia bùi sẻ ngọt cho con
Kết cấu của bài thơ gây bất ngờ cho người đọc. Đó là hệ thống không gian đang từ lớn cứ thu nhỏ dần rồi bất thần mở ra mênh mông vô cùng vô tận! Sự liên tưởng logic của tác giả cũng góp phần mang lại giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Qua "TÌNH MẸ" Ta hiểu cả lòng con! Nếu tình mẹ mênh mông thì lòng con sâu nặng công ơn sinh thành dưỡng dục. Nhớ nhiếu thương lắm người mẹ già ở quê nhà đang từng ngày trăn trở nhớ thương con.


              Khi tà dương gác đỉnh non
               Cha thương mẹ nhớ mong con trở về.

 Tình thương ấy đâu chỉ như nước trong nguồn mà ôm cả đại dương mênh mông vời vợi. Tôi thấu hiểu nỗi lòng người con xa xứ. Tác giả ơi! Phải thế này không: Sợi nhớ sợi thương cuốn trọn địa cầu? Tâm cảnh này đâu phải của riêng ai.


         Thương đôi mắt của những người viễn xứ
           Đăm đắm nhìn quê mẹ phía xa xăm.

Hoàng Tấn Đạt
 


Bình thơ: PHÚT ĐẦU NĂM






PHÚT ĐẦU NĂM 

Khoảnh khắc đầu năm
anh chúc em trên điện thoại
Ấm áp lời anh xao xuyến nghĩa tình
Quyện lời anh
Vẳng tiếng gà gáy gọi bình minh
Da diết quá bao năm rồi nghe lại
Ngỡ hồn quê tha thiết gọi tên mình
Lời anh nói tiếng lòng anh trao gửi
Em ở bên này
cảm nhận ánh bình minh
Xua băng giá cho ngày mai ấm áp
Những vần thơ trao gửi cả tâm tinh
Nửa vòng trái đất ta truyền nhau hơi ấm
Ấm áp cùng anh, em trao cả tâm hồn
Ngọn nến hồng thắp lửa lòng soi rọi
Phương trời xa băng giá, tuyết rơi
Em hiểu lắm
Anh thương vầng trăng khuyết
Nơi xứ người em cảm nhận được tình anh
Anh giữ mãi nửa vầng trăng khuyết nhé
Sẽ lại đầy khi gặp áng thơ anh...

Bùi Nguyệt
Chemnitz, CBLB Đức


LỜI BÌNH CỦA HOÀNG TẤN ĐẠT

Ngày nay, vào thời buổi thông tin hiện đại nối mạng toàn cầu, những người ở xa thường qua điện thoại để cung chúc Tân xuân. Vậy mà nhà thơ Bùi Nguyệt đã thi vị hóa điều bình thường đó qua bài thơ "PHÚT ĐẤU NĂM" Làm ngân rung trái tim bạn đọc từ vần thơ nặng nghĩa sâu tình
Khoảnh khắc đầu năm
Anh chúc em trên điện thoại
Ấm áp lời anh xao xuyến nghĩa tình
Quyện lời anh
Vẳng tiếng gà gáy gọi bình minh
Da diết quá bao năm rồi nghe lại
Ngỡ hồn quê tha thiết gọi tên mình!
Ôi! Một mối tình, mối tình xuyên lục địa trong hoàn cảnh chàng đất Á nàng trời Âu như thế thì tuyệt vời và cao đẹp biết bao. Chẳng dễ cầm lòng đâu đối với người xa xứ, lại còn đang ở nơi băng, tuyết ngập tràn, thèm cả sợi nắng vàng và tiếng gà gáy sáng.
Lời thơ chân thực quá. Thực như nỗi nhớ quê hương vẫn ngày đêm cồn cào da diết của nữ sỹ Bùi Nguyệt, chủ thể trong bài thơ. Nỗi nhớ ấy trỗi dậy, bùng lên trong giây phút bất chợt: Vẳng tiếng gà trong điện thoại mà nghĩ rằng tiếng gọi của hồn quê. Đúng là chỉ có người ly hương mới viết được những dòng thơ như thế.
Nếu "lời anh" là tình riêng thì "Tiếng gà" là tình chung. Riêng và chung hòa quyện vào nhau, dâng trào cảm xúc và mạch cảm xúc ấy cứ cuồn cuộn chảy rồi xoáy vào tâm điểm của tình yêu:
Lời anh nói là tiếng lòng anh trao gửi
Em ở bên này cảm nhận ánh bình minh
Xua băng giá cho ngày mai ấm áp
Những vần thơ trao gửi cả tâm tình
Một chuyển đổi cảm giác khá tài tình giữa sự giao thoa về âm thanh và màu sắc. Âm thanh là "Lời anh", màu sắc là "Ánh bình minh". Ánh bình minh trong văn cảnh này được xem là Thi nhãn: Nó gợi cảm cả ấm nóng, sự sáng trong và niềm tin yêu, hy vọng của tình yêu. Tình yêu ấy đang rực rỡ, rạng ngời mở ra chân trời hạnh phúc, làm lung linh cả "Những vần thơ trao gửi tâm tình". Vần thơ ấy là hơi ấm của tình yêu, là ánh lửa lòng soi rọi. Họ đã truyền cho nhau qua làn sóng điện, đó là phương tiện để hai tâm hồn thi sỹ giao thoa:
Nửa vòng trái đất ta truyền nhau hơi ấm
Ấm áp cùng anh em trao cả tâm hồn"
Và đây là đỉnh điểm của sự thăng hoa. Bạn đọc chúng ta phải cảm nhận bằng xúc giác mới thấy được sự nồng nàn ấm áp của tình yêu. Tình yêu ấy như ngọn lửa hồng bừng bừng rực cháy để xua tan "băng giá", "tuyết rơi", đó là cái lạnh ngoài trời và cái lạnh trong lòng của người xa xứ. Người xa xứ ở đây phải chăng chình là tác giả, chủ thể của bài thơ. Đúng rồi! Nguyệt nghĩa là Trăng. Hiểu như thế ta mới thấy sự tinh tế và logic cùng ẩn ý nằm ở khổ thơ cuối:
Em hiểu lắm
Anh thương vần trăng khuyết
Nơi xứ người em cảm nhận được tình anh
Anh giữ mài nửa vầng trăng khuyết nhé!
Sẽ lại đầy khi gặp áng thơ anh.
Đọc đến đây tôi lại nhớ câu thơ của Hoàng Hữu
Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mảnh trăng còn khuất nửa ở trong nhau
Bài thơ khép lại bằng lời nhắn nhủ xa xôi: Anh giữ mãi tình yêu anh nhé! Hai chúng ta là hai nửa vầng trăng. Hai nửa vầng trăng khi hợp nhất sẽ tràn đầy viên mãn. Tôi thầm nghĩ "Vầng trăng khuyết", hình ảnh rất đẹp và lãng mạn này sẽ ngất ngây-"Anh"- Bạn tình của nữ sĩ. Nó đã góp phần nâng cao thẩm mỹ của bài thơ, lung linh mãi trong lòng bạn đọc "PHÚT ĐẦU NĂM" Là tiếng nói nội tâm riêng của nhà thơ và có lẽ cũng là tiếng nói chung mối tình của những người xa xứ.
Thời đại thông tin không gian như xích lại
Anh với em xa thế mà gần
Hai người ở hai đầu điện thoại
Nghe nồng nàn hơi thở của người thân

Hoàng Tấn Đạt

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

LÀN QUAN HỌ DƯỚI TRỜI TÂY

     


LÀN QUAN HỌ DƯỚI TRỜI TÂY
Chao nghiêng vành nón quai thao
Ngọt ngào Quan Họ chênh chao mạn thuyền
Mượt mà khúc hát trao duyên
Trên màn ảnh nhỏ bỗng nhiên hiện về
 Trời Tây sương phủ tứ bề
 Lá Phong gói cả lời thề thuở xưa
Ngát hương đồng nội ban  trưa
Dịu dàng hương sắc gió mưa dãi dầu
Đậm đà thấu hiểu lòng nhau
Tình em dải lụa bắc cầu vẫn đây
 Làn Quan Họ dưới trời Tây
Mà xao xuyến dạ mà ngây ngất tình
Bao giờ hai đứa chúng mình
Theo liền chị với liền anh hẹn hò
Trải bao tháng đợi năm chờ
Cùng Trăng soi bóng bình thơ bên thềm.,.
Bùi Nguyệt Chemnitz, CHLB Đức